Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 22/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Kim Ngân.
  2. Bà Ngô Thị Thưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng S, sinh ngày 27/11/1998 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: 475/31, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hoàng D và bà Lê Thị Tuyết N; bị cáo là con lớn trong gia đình có 02 anh em; bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu Q và có 01 người con tên Phạm Hoàng K, sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Huỳnh Công T, sinh năm 1989.
  • Địa chỉ: 3, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • +Trần Nguyễn Thế T1, sinh năm 1990.
  • Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • (Cửa hàng điện thoại di động T). Vắng mặt

- Người làm chứng:

  • + Lê Thị Tuyết N, sinh ngày 1979.
  • Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ trưa ngày 24/12/2023, Phạm Hoàng S đứng ở nhà mình nhìn qua nhà của anh Huỳnh Công T ở ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre thì phát hiện nhà anh T đóng cửa, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định sang nhà của anh T lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. S liền đi đến bên hông nhà anh T đến cửa sổ loại cửa kính lùa không có khóa, còn để hở, S dùng tay đẩy cửa lùa sang một bên và leo qua cửa sổ vào trong nhà, thấy phòng ngủ không có khóa nên đi vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. Khi vào phòng ngủ của anh T, S đến mở ngăn tủ đứng bằng nhựa thứ 2 từ trên xuống lấy trộm 02 cái điện thoại Iphone 11 Promax (một cái màu vàng, một cái màu xanh) bỏ vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà mình bằng lối vào trước đó và đem tài sản cất giấu trong phòng riêng.

Tiếp theo cũng với thủ đoạn như lần trước, khoảng 12 giờ trưa ngày 25/12/2023, S tiếp tục đứng nhìn qua nhà anh T, thấy không có ai nên đi đến hong nhà kéo cửa kính lùa leo vào nhà đến phòng ngủ của anh T lấy trộm 01 cái Ipad 4 màu trắng để trên nệm và 01 cái Ipad Gen 6 màu đen để trên bàn rồi đi về bằng lối vào và đem tài sản vào phòng riêng của mình cất giấu.

Đến khoảng 14 giờ ngày 25/12/2023, S đem 01 cái điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng bán cho cửa hàng điện thoại di động Thế Trung do anh Trần Nguyễn Thế T1, sinh năm 1990, địa chỉ ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre làm chủ với giá 7.000.000đồng, đã nhận tiền xong. Đến ngày 03/01/2024, S tiếp tục sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh trộm của anh T còn lại chụp ảnh 02 cái I và đăng nhập vào tài khoản facebook của mình rao bán trên mạng xã hội, có tài khoản "mua bán xác điện thoại" hỏi và đến mua trực tiếp và S đã bán được 02 cái Ipad với giá 1.300.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ ngày 04/01/2024 thì S tiếp tục đem điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh còn lại đến bán cho anh Thế T1 với giá 6.500.000đồng, đã nhận tiền xong.

Sau đó anh T phát hiện mình bị mất 02 cái Iphone 11 Promax và 02 cái Ipad. Ngày 08/01/2024, anh T có đến cửa hàng điện thoại di động T để sửa điện thoại và nhìn thấy anh T1 trưng bày điện thoại của mình trong tủ để bán, nên anh T hỏi T1 gần đây có thu mua điện thoại Iphone không thì anh T1 nói có và lấy cho anh T xem điện thoại, qua kiểm tra thì anh T xác định là điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng của mình bị mất nên đến trình báo với Công an xã V toàn bộ vụ việc.

Do nghi ngờ Phạm Hoàng S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Huỳnh Công T nên cơ quan Công an mời làm việc. Quá trình làm việc S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HDĐG ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bóng đêm (màu xanh), số máy MWFR2LL/A, số seri F2MZJD4EN70G, số máy IME1353906103661915, số IMEI2 353906103583520, đã qua sử dụng, được mua năm 2023 với giá 10.500.000đồng, thời điểm định giá 24/12/2023 giá trị 7.500.000 đồng.
  • + Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (màu gold), số máy MWFR2LL/A, số seri H0CH207FN70F, số IMEI 352845116242548, số IMEI2 352845116195530, đã qua sử dụng, được mua năm 2023 với giá 10.500.000đồng, thời điểm định giá 24/12/2023 giá trị 7.500.000 đồng.
  • + Một máy tính bảng nhãn hiệu Apple, chủng loại Ipad 4, màu trắng, đã qua sử dụng, được mua vào năm 2023 với giá 4.000.000đồng (qua lời trình bày của bị hại), thời điểm định giá 25/12/2023, giá trị 3.000.000đồng.
  • + Một máy tính bảng, nhãn hiệu Apple, chủng loại Ipad gen 6, màu đen, đã qua sử dụng, được mua vào năm 2023 với giá 6.000.000đồng (qua lời trình bày của bị hại), thời điểm định giá 25/12/2023 giá trị 2.000.000đồng.

Vật chứng thu giữ:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ và xử lý các vật chứng như sau:

Trả cho bị hại Huỳnh Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bóng đêm (màu xanh), số máy MWFR2LL/A, số seri F2MZJD4EN70G, số máy IME1353906103661915, số IMEI2 353906103583520, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (màu gold), số máy MWFR2LL/A, số seri H0CH207FN70F, số IMEI 352845116242548, số IMEI2 352845116195530, đã qua sử dụng.

Phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.0000đồng và trả lại cho anh Trần Nguyễn Thế T1 số tiền 13.500.000đồng mà anh đã mua 02 điện thoại di động do bị cáo bán đã nhận tiền.

Cáo trạng số 34/CT-VKSCL ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Phạm Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Hoàng S và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng S 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/7/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả cho bị hại Huỳnh Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bóng đêm (màu xanh), số máy MWFR2LL/A, số seri F2MZJD4EN70G, số máy IME1353906103661915, số IMEI2 353906103583520, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (màu gold), số máy MWFR2LL/A, số seri H0CH207FN70F, số IMEI 352845116242548, số IMEI2 352845116195530, đã qua sử dụng.

Phần dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.0000đồng và trả lại cho anh Trần Nguyễn Thế T1 số tiền 13.500.000đồng mà anh đã mua 02 điện thoại di động do bị cáo bán đã nhận tiền và không ai yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời trình bày của bị hại về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, Phạm Hoàng S đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Huỳnh Công T. Ngày 24/12/2023, chiếm đoạt của anh T 02 điện thoại di động Iphone 11 Promax trị giá 15.000.000đồng và ngày 25/12/2023, chiếm đoạt của anh T 02 (hai) máy tính bảng nhãn hiệu Apple, chủng loại Ipad trị giá 5.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 20.000.000đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 20.000.000đồng vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, việc truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị có tình tiết tăng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đang nuôi con còn nhỏ; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý hoang moang, bất an trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên với nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nhưng bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị hại cũng có một phần thiếu cảnh giác trong giữ gìn, bảo quản tài sản dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đang nuôi con còn nhỏ và có nơi cư trú rõ ràng đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn của pháp luật, căn cứ vào hướng dẫn Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và đồng thời cũng có tác dụng phòng ngừa tội phạm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập, kinh tế ổn định.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Đối với anh Trần Nguyễn Thế T1 chủ cửa hàng điện thoại di động Thế T1 có mua 02 chiếc điện thoại do Phạm Hoàng S bán, nhưng anh T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối với người mua 02 máy tính bảng (Ipad) do Phạm Hoàng S bán trên mạng xã hội, không xác định được ai nên không có cơ sở xử lý đối với người này.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên bị cáo là thành viên hộ nghèo được miễn án phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng S 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/7/2024.

    Giao bị cáo Phạm Hoàng S cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp trong thời gian thử thách mà bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thihành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Về xử lý vật chứng:

    Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả cho bị hại Huỳnh Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh bóng đêm (màu xanh), số máy MWFR2LL/A, số seri F2MZJD4EN70G, số máy IME1353906103661915, số IMEI2 353906103583520, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng (màu gold), số máy MWFR2LL/A, số seri H0CH207FN70F, số IMEI 352845116242548, số IMEI2 352845116195530, đã qua sử dụng.

    Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.0000đồng, trả lại cho anh Trần Nguyễn Thế T1 số tiền 13.500.000đồng mà anh đã mua 02 điện thoại di động do bị cáo bán đã nhận tiền và không ai yêu cầu bồi thường gì khác.

  3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Phạm Hoàng S phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng.

  4. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - STP tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Chi cục THADS Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Công an huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (3b);
  • - Bộ phận HS CA Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (2b);
  • - UBND xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (3b);
  • - Lưu: HS vụ án, Văn phòng (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Đào Chí Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hòang S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger