Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 22-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Thế Khuynh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mật;

Ông Hoàng Minh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn gồm có: Bị cáo, Kiểm sát viên, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ; đối với vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn B, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1985, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Thế L, con bà Giáp Thị H; vợ: Chu Thị L1; con: Có 01 con (sinh năm 2009); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 15 tháng 3 năm 2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1974; trú tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • Bà Hùng Thị S, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
  • Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 2000;
  • Chị Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 2002;
  • Anh Hoàng Văn D, sinh năm 2004;
  • Chị Hoàng Hương G, sinh năm 2006;
  • Cháu Hoàng Thị Ánh T, sinh năm 2008;
  • Cháu Hoàng Bảo M, sinh năm 2011;

Cùng trú tại: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Nguyễn Phúc L2, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
  • Bà Chu Thị L1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 01/2024 Hoàng Văn B và Nguyễn Phúc L2 thống nhất thỏa thuận hai người thay phiên nhau sử dụng chung xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 (do Nguyễn Phúc L2 đứng tên đăng ký sở hữu) và sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 (do Hoàng Văn B đứng tên đăng ký sở hữu) để kinh doanh chở đất, ca 1 từ 06 giờ đến 18 giờ trong ngày, ca 2 từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau, Nguyễn Phúc L2 có giấy phép lái xe nên tự điều khiển xe còn Hoàng Văn B thuê người lái xe do không có giấy phép lái xe.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/02/2024 Hoàng Văn B đã tự ý điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75, đi theo Quốc lộ A đến công trường xây dựng khu đô thị P thuộc địa phận khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để chở đất đưa về xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho người mua đất để lấy tiền cước vận chuyển. Khoảng 22 giờ 08 phút cùng ngày, trên đường chở đất đi về, đến Km 59+700 Quốc lộ A (hướng Lạng Sơn - Hà Nội) thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, xe ô tô do Hoàng Văn B điều khiển đã đâm vào ông Hoàng Văn V đang đi bộ từ bên trái sang bên phải đường (hướng Lạng Sơn - Hà Nội) gây ra vụ tai nạn. Hậu quả, ông Hoàng Văn V tử vong tại chỗ; xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 bị hư hỏng.

Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn hồi 02 giờ 08 phút ngày 24/02/2024 đối với Hoàng Văn B cho kết quả 0,000 mg/l khí thở.

Tại phiếu kiểm tra nước tiểu ngày 24/02/2024 đối với Hoàng Văn B cho kết quả âm tính đối với các chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 353/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Văn V do đa chấn thương.

Tại bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 03/3/2024 và bản kết luận giám định số 378/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Trong mẫu máu của Hoàng Văn V gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy thường gặp; trong mẫu máu của Hoàng Văn V gửi giám định có Ethanol, nồng độ 217mg/100ml.

Tại bản kết luận giám định kỹ thuật số 10/GĐKT-ĐK ngày 05/3/2024 của Công ty Cổ phần Đ1, tỉnh Lạng Sơn, kết luận:

  • Xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật;
  • Sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL- HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Trị giá thiệt hại của xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 là 3.367.000 đồng (ba triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được, xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 59+700 Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn được mô tả theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội. Vị trí xảy ra vụ tai nạn trong đoạn đường hai chiều, thẳng, mặt đường phẳng (không bị che khuất tầm nhìn), được rải nhựa rộng 10,05m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng phân chia hai chiều xe chạy (bên phải rộng 3,55m, bên trái rộng 3,55m), hai bên đường có vạch sơn kẻ liền màu trắng phân chia phần đường dành cho xe cơ giới với phần đường dành cho xe thô sơ, xe gắn máy và người đi bộ (bên phải rộng 1,55m, bên trái rộng 1,4m). Làn đường dành cho xe cơ giới, xe thô sơ, xe gắn máy và người đi bộ bên phải (trước và trong hiện trường) có bố trí 03 (ba) hệ thống gờ giảm tốc. Bên phải, trong hiện trường (trước vị trí va chạm), hướng Lạng Sơn - Hà Nội có biển báo hiệu số W.207b (giao nhau với đường không ưu tiên). Xác định vị trí xảy ra va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 và ông Hoàng Văn V là tại phần đường dành cho xe cơ giới bên phải hướng Lạng Sơn - Hà Nội và nằm trong khu vực còn hiệu lực của biển báo hiệu W.207b. Như vậy, lỗi trong vụ tai nạn giao thông là lỗi hỗn hợp. Đối với Hoàng Văn B điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ và quy tắc khi tham gia giao thông, không chú ý quan sát, không thực hiện giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua đoạn đường có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm nên đã gây ra vụ tai nạn. Hành vi của Hoàng Văn B đã vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ; vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1.

Đối với ông Hoàng Văn V là người đi bộ qua đường (trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia) nhưng thiếu chú ý quan sát các xe đang đi tới, qua đường không đảm bảo an toàn dẫn đến xảy ra vụ tai nạn giao thông. Hành vi của ông Hoàng Văn V đã vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • 01 (một) xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENLONG biển số 98C-073.41;
  • 01 (một) sơ mi rơ moóc nhãn hiệu JUPITER biển số 98R-032.75;
  • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 98012101 của xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41;
  • 01 (một) giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng V2 ngày 30/10/2023 về việc tạm giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75;
  • 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41, số EB 0085447, có hiệu lực đến ngày 01/4/2024;
  • 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75, số EA 0938732, có hiệu lực đến ngày 03/4/2025;
  • 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41, số 0227224, có hiệu lực đến ngày 29/5/2024;
  • 01 (một) mắt camera ghi hình có dán tem, ký hiệu STV-A6610CWP-0B1E-AIR2.8mm-A; SVT-CW-21-05017793;
  • 01 (một) mắt camera ghi hình có dán tem, ký hiệu STV-A6610CWP-0B1E-AIR2.8mm-A; SVT-CW-21-05017787;
  • 01 (một) máy kỹ thuật, ký hiệu Mobile Digital video Recorder, H5.

Đối với các vật chứng, đồ vật, tài liệu trên, ngày 28/3/2024 và ngày 24/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Chu Thị L1 và ông Nguyễn Phúc L2 theo quy định.

Đồ vật, tài liệu còn tạm giữ: 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Văn B do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 06/11/2018, có giá trị đến ngày 06/11/2028. Đồ vật còn lại chưa xử lý đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Hoàng Văn B đã tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại Hoàng Văn V tổng số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố: Bị cáo Hoàng Văn B về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai rõ toàn bộ hành vi vi phạm như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Trong biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Hùng Thị S trình bày: Bị cáo Hoàng Văn B và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 160.000.000 đồng, theo biên bản hòa giải ngày 04 tháng 3 năm 2024, gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hoàng Văn B.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phúc L2 xác nhận ông Nguyễn Phúc L2 là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41; giữa ông và Hoàng Văn B có thỏa thuận về việc sử dụng chung xe ô tô và rơ moóc để kinh doanh; sau tai nạn ông đã được nhận lại xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 cùng toàn bộ giấy tờ kèm theo xe, ông không có yêu cầu, đề nghị gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Chu Thị L1 xác nhận bị cáo Hoàng Văn B có nhắn nhờ gia đình lo thỏa thuận bồi thường cho bị hại và bà đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho gia đình bị hại. Tiền bồi thường là của bị cáo và gia đình bồi thường thay cho bị cáo với mục đích bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn B và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ của hành vi, mức độ lỗi, mối quan hệ nhân quả của hành vi phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2, Điều 51; các Điều 38, 50, 56 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt với Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn B và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Hoàng Văn V tổng số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm, đề nghị ghi nhận thỏa thuận bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Văn B.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cần buộc bị cáo Hoàng Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Văn B xin Hội đồng xét xử cho hưởng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại (nêu tại phần đầu của Bản án) đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ đã có đủ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; bản kết luận giám định pháp y vê tử thi, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định, cụ thể:

[4] Khoảng 22 giờ 08 phút ngày 23/02/2024 tại Km 59+700 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn B không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ và quy tắc khi tham gia giao thông, không chú ý quan sát, không thực hiện giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua đoạn đường có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, dẫn đến xảy ra va chạm với ông Hoàng Văn V là người đi bộ qua đường. Hậu quả làm ông Hoàng Văn V tử vong. Với hành vi này đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Văn B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 38/CT-VKSCL ngày 27/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo Hoàng Văn B xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng, hậu quả đã gây thiệt hại tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Xác định lỗi của bị cáo trong vụ tai nạn là lỗi vô ý, do Hoàng Văn B điều khiển xe ô tô trong tình trạng không có giấy phép lái xe hợp lệ, không chấp hành quy định về tham gia giao thông đường bộ, không tuân thủ luật giao thông đường bộ, gây ra vụ tai nạn, hậu quả làm 01 người chết. Hành vi của Hoàng Văn B đã vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ; vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1. Đối với bị hại ông Hoàng Văn V là người đi bộ qua đường cũng có một phần lỗi vì thiếu chú ý quan sát các xe đang đi tới, qua đường không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông trong tình trạng đã sử dụng rượu bia dẫn đến xảy ra vụ tai nạn giao thông. Hành vi của ông Hoàng Văn V đã vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ.

[6] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, có cân nhắc đến tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn B là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn B không có; về tình tiết giảm nhẹ: Khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo đã kịp thời thăm hỏi, tích cực bồi thường thiệt hại; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ông nội của bị cáo là ông Hoàng Thế V1 có công được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba; năm 2023 bị cáo được Ban, huyện S, tỉnh Bắc Giang, tặng Gấy khen, do có thành tích trong công tác tình nguyện. Bị cáo Hoàng Văn B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Sau khi xem xét, đánh giá, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Hoàng Văn B ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Sau khi bị cáo bị khởi tố về hành vi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, ngày 14/3/2024; bị cáo Hoàng Văn B đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử tại Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 02/5/2024, bị cáo bị xử phạt 03 năm 08 tháng tù, về tội Đánh bạc, do đó cần tổng hợp hình phạt của hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo vì không cần thiết phải cấm bị cáo hành nghề sau khi đã chấp hành án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn B và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 160.000.000 đồng, theo biên bản hòa giải ngày 04 tháng 3 năm 2024, gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận nêu trên vì đúng quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

[9] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Văn B vì không phải là vật chứng, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm vì chịu án phí là trách nhiệm của người bị kết án theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hoàng Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch vì bị cáo đã thực hiện bồi thường trước khi mở phiên tòa.

[11] Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đề nghị về mức hình phạt, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù của Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 02/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, buộc bị cáo Hoàng Văn B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Hoàng Văn B đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Hoàng Văn V tổng số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng), bà Hùng Thị S là người đại diện ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ.
  4. Về xử lý vật chứng:
  5. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Văn B do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 06/11/2018, có giá trị đến ngày 06/11/2028.

    (Vật chứng lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, ngày 28/6/2024).

  6. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự nộp vào ngân sách Nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện C, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQCSĐT Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an huyện C, Lạng Sơn;
  • - Nhà tạm giữ, Công an huyện C;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện C;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Hoàng Thế Khuynh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tháng 01/2024 Hoàng Văn B và Nguyễn Phúc L2 thống nhất thỏa thuận hai người thay phiên nhau sử dụng chung xe ô tô đầu kéo biển số 98C-073.41 (do Nguyễn Phúc L2 đứng tên đăng ký sở hữu) và sơ mi rơ moóc biển số 98R-032.75 (do Hoàng Văn B đứng tên đăng ký sở hữu) để kinh doanh chở đất, ca 1 từ 06 giờ đến 18 giờ trong ngày, ca 2 từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau, Nguyễn Phúc L2 có giấy phép lái xe nên tự điều khiển xe còn Hoàng Văn B thuê người lái xe do không có giấy phép lái xe.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger