Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/5/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107A/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1974;

Địa chỉ: H đường số B, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1969;

Địa chỉ: E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

(Bà C có đề nghị giải quyết vắng mặt; ông B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Văn B đăng ký kết hôn vào ngày 13/8/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà C, ông B sinh sống tại địa chỉ E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Để phát triển kinh tế gia đình, bà và ông B cùng nhau đi bán cà rem. Tuy nhiên, quá trình chung sống, ông B thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập bà. Ngoài ra, bà còn phát hiện ông B ngoại tình với người phụ nữ khác. Mặc dù bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông B vẫn chứng nào tật nấy, không chịu thay đổi bản thân. Vào năm 2020, có một lần bà bị ông B đánh vào ban đêm, khi đó bà có trình báo với Công an phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Sau sự việc này, bà cùng với hai con đã chuyển lên sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh còn ông B vẫn đang sinh sống tại địa chỉ E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông B nên bà cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà C khai bà và ông B có với nhau 02 con chung tên Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 10/6/1999 và Lê Thị Mỹ Đ, sinh ngày 09/10/2008. Cháu N đã trưởng thành, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Đ, sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, bà không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Do ở xa và bận đi làm nên bà C đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.

Bị đơn ông Lê Văn B: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Văn B, tuy nhiên ông B vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C; Về con chung giao cháu Đ cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con; Cháu Như đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: bà C khai không có nên không xem xét. Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích C đề ngày 04/3/2024 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Lê Văn B có nơi cư trú tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 14/3/2024 (BL11) và Biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2024 (BL20), bà C có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Lê Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông B vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà C và ông B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông B đăng ký kết hôn vào ngày 2007 tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Việc đăng ký kết hôn giữa bà C và ông B là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà C trình bày yêu cầu ly hôn với ông B do ông B có hành vi bạo lực gia đình và ngoại tình, bà không còn tình cảm và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với ông B. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông B nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà C hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông B vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của bà C, như vậy ông B có ý thức bỏ mặt việc bà C khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Bên cạnh đó, bà C trình bày vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay, thời gian ly thân thì bà sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh còn ông B sinh sống tại tỉnh Bến Tre, thời gian ly thân mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C là phù hợp.

[3] Về con chung: Bà C và ông B có với nhau 02 con chung tên và Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 10/6/1999 và Lê Thị Mỹ Đ, sinh ngày 09/10/2008. Cháu N đã trưởng thành, bà C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Đối với cháu Đ, tại biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 02/4/2024, cháu Đ trình bày cháu có nguyện vọng được sống chung với bà C (BL19); đồng thời xét thấy cháu Đ hiện do bà C trực tiếp nuôi dưỡng, phía ông B cũng không ý kiến gì về vấn đề nuôi con chung. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu Đ cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà C khai không có nên không xem xét.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà C có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích C về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Lê Văn B, cụ thể:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích C được ly hôn với ông Lê Văn B.
    2. Về con chung:

      Cháu Lê Thị Huỳnh N, sinh ngày 10/6/1999 đã trưởng thành, bà Nguyễn Thị Bích C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

      Giao cháu Lê Thị Mỹ Đ, sinh ngày 09/10/2008 cho bà Nguyễn Thị Bích C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Bích C tạm thời không yêu cầu ông Lê Văn B cấp dưỡng nuôi con.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Bích C khai không có nên không xem xét.
    4. Các vấn đề khác: Bà Nguyễn Thị Bích C khai không có nợ chung nên không xem xét.
  2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Bích C có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004272 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (đã nộp xong).
  3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích C và ông Lê Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - UBND Phường 6, quận Gò Vấp, Thành phố
  • Hồ Chí Minh - số 59/2007(1b);
  • ngày 19/5/2016 (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger