Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC CƠ

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 22/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hùng Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Khả Hòa;

2. Ông Nguyễn Đình Dược.

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Tuy sinh ngày 01/01/1978 tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ E (sinh năm 1939) và bà Nguyễn Thị K (đã chết), bị cáo có vợ tên Võ Thị Tuyết N (đã ly hôn) và có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024 đến ngày 06/02/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2024 cho đến nay, bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoàng N1, địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (Có đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2023, Võ T đến khu vực Cửa khẩu Quốc tế L1 thuộc thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để bốc vác thuê. Tại đây, T quen biết với người đàn ông

có tên thường gọi là M (người Campuchia, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Đến thời điểm gần tết Nguyên Đán, Tuy xin pháo của người đàn ông này với mục đích đưa về nhà tại thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để sử dụng thì được người này đồng ý. Sau đó, người đàn ông tên M thường cho Tuy pháo, mỗi lần cho từ 01 đến 02 hộp pháo hoa nổ và một vài bì pháo nổ. Do chưa có dịp về nhà nên Tuy cất giấu pháo tại bụi cây thuộc thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Đến tối ngày 31/01/2024, T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winnerx biển kiểm soát (BKS) 81P1 – 341.82 đến vị trí cất giấu pháo trước đó lấy tất cả là 07 (bảy) hộp pháo hoa nổ bỏ vào túi ni lông màu đen rồi để phía sau yên xe và 10 (mười) bì pháo bị bỏ vào bao xác rắn rồi để ở gác ba ga của xe. Tuy điều khiển xe chạy trên quốc lộ A theo hướng về nhà tại thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến đoạn đường Q, đối diện Đội Quản lý thị trường số C thuộc địa phận thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang, tiến hành thu giữ, niêm phong toàn bộ số pháo mà T đang vận chuyển.

Kết luận giám định số: 213 ngày 06/02/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh G, kết luận:

  • - 10 (mười) bì nilon trong suốt, bên trong mỗi bì nilon có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, đường kính 2,7 cm, tất cả các vật hình cầu đều có gắn đoạn dây xanh được chuyển giám định là pháo nổ, tổng khối lượng 4,3 kg.
  • - 07 (bảy) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ "A8426 – SUCCESSFUL – 49 SHOTS”, chuyển đến giám định là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 11,1 kg.

Tại Bản Cáo trạng số 25/CT- VKS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Võ T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng. Đề nghị tuyên bố bị cáo Võ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng pháo nổ, pháo hoa nổ còn lại sau giám định.

Đối với các vật chứng khác: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ: Có cơ sở để nhận định các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[3] Xét thấy, bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ để nhận định:

Bị cáo Võ T quen biết với đối tượng tên M và được đối tượng này cho 07 (bảy) hộp pháo hoa và 10 (mười) bì pháo bị. Tuy đã cất giấu số pháo này để mang về nhà sử dụng. Đến ngày 31/01/2024, T đã điều khiển xe mô tô BKS: 81P1 – 341.82 chở theo số pháo trên để về nhà để sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đ. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Kết luận giám định xác định 07 (bảy) hộp pháo hoa và 10 bì pháo bị mà Tuy tàng trữ là pháo hoa nổ và pháo nổ, có tổng khối lượng là: 15,4kg.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực hành vi đầy đủ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 191. Tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, Tàng trữ hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c) P nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

...”

Như vậy Cáo trạng số 25/CT- VKS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, sử dụng. Việc tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì mục đích tàng trữ pháo về đốt vào dịp Tết Nguyên đán để thỏa mãn sở thích của

bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, đã vận chuyển pháo nổ về cất giấu để sử dụng.

Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo đã ly hôn vợ, một mình nuôi cha già bệnh tật.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, thấy rằng, bị cáo có hành vi tàng trữ pháo nổ với số lượng ở mức thấp của khung hình phạt (15,4kg). Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, đang nuôi cha già bệnh tật. Cần thiết xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp và cho hưởng án treo là phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật, với đạo đức xã hội. Giao bị cáo cho UBND xã I nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xét không cần thiết áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về hành vi của những người có liên quan:

Đối với đối tượng tên M là người đã cho T pháo. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành các biện pháp xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy khối lượng pháo nổ, pháo hoa nổ còn lại sau giám định.

Đối với các vật chứng khác: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật. Cụ thể: Trả lại chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 81P1 – 341.82, nhãn hiệu Honda, loại Winnerxcho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Hoàng N1; Trả 01 điện thoại di động, màu đen có gắn thẻ sim có số seri 8984048000011642761 cho chủ sở hữu hợp pháp là bị cáo T. Vì bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại vào việc phạm tội.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

    - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Võ T 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 22/5/2024).

    Giao bị cáo Võ T cho UBND xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về vật chứng xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy:

    • + 08 (tám) bì ni lon trong suốt, bên trong mỗi bì ni lon có 100 (một trăm) vật hình cầu bằng nhựa, đường kính 2,7 cm, tất cả các vật hình cầu đều có gắn đoạn dây màu xanh, tổng khối lượng 3,4 kg.
    • + 03 (ba) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “A8426 – SUCCESSFUL – 49 SHOTS”, tổng khối lượng 4,7 kg.

    Được niêm phong trong 01 (một) bao xác rắn và 01 (một) thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T1, Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn T2.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Cơ).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

    Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

  4. Các vấn đề khác: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, của người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lại Hùng Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (tội tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger