|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ- ST Ngày: 22-5-2024 "Về việc ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Nguyễn Tấn Để
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt);
Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05-02-2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng E trình bày và yêu cầu như sau:
Vào năm 1991 ông có chung sống như vợ chồng với bà Trần Thị T, từ khi chung sống cho đến nay ông bà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T không toàn tâm toàn ý sống với ông, lúc nào cũng muốn có cuộc sống tự do, không muốn ràng buộc bởi gia đình nên thường xuyên xảy ra cự cãi. Ông đã cố gắng nhẫn nhịn và cho bà T nhiều cơ hội nhưng bà vẫn không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến năm 2021 bà T bỏ nhà đi chung sống với người phụ nữ khác, còn gọi điện thoại xúc phạm ông nhiều lần.
Về con: Ông và bà T có 02 con chung là Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1992 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 01/01/1997, hiện nay các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được. Về tài sản và nợ: Hiện nay ông bà không tranh chấp.
Nay ông xin được ly hôn với bà Trần Thị T; đối với các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung hiện ông bà không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản hòa giải ngày 22/4/2024 bị đơn bà Trần Thị T trình bày:
Bà và ông Hoàng E chung sống với nhau năm 1991, từ khi chung sống cho đến nay ông bà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên không được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng có 02 con chung, họ tên ngày tháng năm sinh của con là đúng như ông Hoàng E trình bày; về tài sản chung và nợ chung hiện nay ông bà không tranh chấp.
Nay theo yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng E thì bà đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Hoàng E. Đối với các con hiện nay đã thành niên, tự lao động sinh sống được, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung hiện ông bà không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; việc xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Hoàng E và bà Trần Thị T; về con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không xem xét; về tài sản và nợ hiện không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa ngày hôm nay.
[2] Về quan hệ hôn nhân, ông Hoàng E và bà T chung sống với nhau vào năm 1991, quá trình chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1992 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 01/01/1997. Tuy nhiên, ông bà chưa thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, mặc dù ông Hoàng E và bà T sống chung trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều kiện kết hôn nhưng do ông, bà không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng” và tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Đối chiếu với quy định nêu trên, nay ông Hoàng E có yêu cầu ly hôn với bà T, Tòa án thụ lý vụ việc và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hoàng E và bà T.
[3] Về con chung, ông Hoàng E và bà T có 02 con chung tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/01/1992 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 01/01/1997, hiện nay các con đã thành niên, tự lao đông sinh sống được, ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, ông Hoàng E và bà T xác định hiện không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí, nguyên đơn ông Hoàng E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Hoàng E và bà Trần Thị T.
- Về quan hệ nuôi con chung: Hiện nay các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không xem xét.
- Về tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng E chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0005156 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, ông Hoàng E đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn ông Hoàng E và bị đơn bà T. Nguyên đơn ông Hoàng E và bị đơn bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Lê Chí Công
Bản án số 36/2024/HNGĐ- ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn H+E
