|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày 21/8/2024 Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Cương.
- Bà Nông Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Duy Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải, kiểm sát viên.
Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/QĐST-HNGĐ ngày 13/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T có được tự nguyện tìm hiểu trước khi kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống cùng bố mẹ chồng tại Đ, Y. Đến tháng 3 năm 2024 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, đặc biệt về kinh tế nên không tìm được tiếng nói chung mà thường xuyên xảy ra cãi vã, xô sát. Anh T nhiều lần xúc phạm chị và bố mẹ chị nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hàn gắn được. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.
Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng nhưng anh T không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
* Tại bản khai, ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T. Gia đình ông có tổ chức lễ cưới cho chị L và anh T theo phong tục địa phương vào đầu năm 2024. Chị L và anh T chung sống hạnh phúc được khoảng hai tháng thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng, mâu thuẫn đỉnh điểm nhất là vào tháng 3/2024, chị L bỏ về nhà mẹ đẻ sống và vợ chồng anh chị cũng ly thân từ đó cho đến nay. Sau khi nhận được văn bản của Tòa án, ông đã giao lại cho anh T và anh T cũng nói lại với ông là anh đồng ý ly hôn nhưng do bận công việc không đến Tòa án làm việc được.
+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về việc nuôi con, tài sản, công nợ: Các đương sự thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị L xin ly hôn với anh T; Anh T có nơi cư trú tại huyện Y, tỉnh Bắc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt của đương sự: Chị L vắng mặt đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L và anh T.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của chị L và ông H ( là bố đẻ của anh T) xác định: Chị L và anh T kết hôn vào tháng 01/2024, đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, dẫn đến rạn nứt tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, không ai quan tâm ai. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định mâu thuẫn giữa chị L và anh T là trầm trọng, hôn nhân thực tế đã không tồn tại, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L xin ly hôn anh T là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về việc nuôi con: Chị L và anh T không có con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy L: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về tiền án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng tại Biên lai số 0004992 ngày 18/6/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.
