Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Ngư.
  2. Ông Tạ Dương Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Huỳnh Thị Quyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày ngày 25 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37 /2024/QĐXXST-HSngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Phan Thành Đ, sinh ngày 30 tháng 3 năm 1998; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Phan Quốc D, sinh năm 1978 và bà Danh Thị S; Vợ: Đinh Ngọc T; Con: 01 người sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: Có 02 tiền sự chưa được xóa, ngày 04/5/2023 bị Công an xã A ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành nộp phạt và ngày 24/5/2023 bị Công an xã A ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tham gia tụ tập nhiều người tại nơi công cộng gây mất trật tự công cộng, chưa chấp hành nộp phạt. (Nhân thân: Ngày 30/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024(Có mặt).

Bị hại: Ông Sơn Hiếu T1, sinh năm 1998 (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Dương Văn Đ1, sinh năm 1995 (Có mặt).
  2. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  3. Ông Sơn Khánh K, sinh năm 2006 (Có mặt).
  4. Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  5. Bà Lâm Thị Thanh H, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Người làm chứng:

  1. Ông Phan Anh T2, sinh năm 2007 (Vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

    Có người đại diện là ông Phan Trung T3, sinh năm 1983 (Có mặt).

    Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  3. Bà Đinh Ngọc T, sinh năm 2001 (Vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa bị cáo Phan Thành Đ (sinh ngày 30/3/1998, cư trú ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) và bị hại Sơn Hiếu T1 (sinh ngày 22/12/1998, cư trú ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng), trước đó không có mâu thuẫn gì với nhau.

Vào khoảng 17 giờ ngày 02/8/2023, sau khi nghe tin vợ mình là Đinh Ngọc T (sinh ngày 24/9/2001, cư trú ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) được người khác chở đi nhậu thì Phan Thành Đ lấy cây búa tự chế (dài khoảng 60 cm, lưỡi búa được làm bằng miếng sắt thắng đĩa xe mô tô cắt làm đôi mài bén, cán búa bằng sắt tròn được gắn vào lưỡi búa bằng miếng kẹp sắt) để trong áo sau đó đi bộ ra quán cà phê của bà N cặp đường tỉnh 932 ngồi đợi xem ai là người chở vợ mình đi nhậu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, thì Đ nhìn thấy Sơn H1 T1 điều khiển xe mô tô chở Đinh Ngọc T ngồi phía sau chạy từ hướng P đi B, lúc này Đ lấy xe mô tô biển kiểm soát 83G1-113.32 của Sơn Khánh K cùng ngồi uống cà phê với Đ, chạy đuổi theo phía sau T1, chạy được một đoạn thì Đ đuổi kịp và kêu T1 dừng xe lại nhưng T1 không dừng mà tiếp tục tăng ga chạy về hướng B, lúc này Đ nhìn thấy bạn mình là Dương Văn Đ1 (sinh ngày 06/8/1995, cư trú ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) đang điều khiển xe mô tô cùng chiều chạy phía trước nên truy hô “Chặn nó lại, chặn nó lại” sau đó Đ tiếp tục tăng ga đuổi theo T1. Khi T1 điều khiển xe xuống dốc cầu B (thuộc ấp B, xã A) thì xe bị tắt máy, Đ đuổi đến cúp đầu xe T1, khi thấy T1 thì Đ biết T1 là người yêu cũ của vợ mình nên Đ hỏi T1 “mày chở vợ tao đi đâu”, T1 trả lời “đưa T về nhà”, lúc này Đ dùng tay đánh vào mặt T1 02 – 03 cái thì T1 nhào vào định đánh lại Đ, Đ1 đi đến thấy T1 đang nhào vào đánh Đ nên đi đến chỗ T1 dùng tay đánh vào vùng mắt T1 01 cái, thấy vậy T đứng phía trước che cho T1 thì Đ giơ búa lên định chém T1, T1 lùi lại bỏ chạy thì bị vấp té ngã ngửa xuống đường, khi T1 vừa té thì T nằm che cho T1, thấy T che cho T1 thì Đ dùng búa chém 01 cái vào đầu gối T1, rồi chém tiếp 05 – 06 cái vào đùi, lưng và nhiều nơi trên cơ thể của T1, Đ1 thấy vậy thì ôm Đ can ngăn, Đ tiếp tục dùng cán búa đập vào môi, mặt T1 02 – 03 cái nữa, lúc đó T đứng dậy cùng với Đ1 ôm, đẩy Đ ra không cho chém T1 nữa, Đ tiếp tục dùng chân đạp và mặt T1 01 cái nữa rồi bỏ về. Sau khi sự việc xảy ra thì T1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh S để điều trị thương tích, đến ngày 08/8/2023 thì xuất viện. Ngày 04/8/2023, Sơn H1 T1 có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý người đã gây thương tích cho mình theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 372/KLTTCT-TTPYST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận về thương tích của bị hại Sơn Hiếu T1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo vùng mặt môi trên bên phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (ba phần trăm).
  • Sẹo vùng gối phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (hai phần trăm).
  • Hai vết xước da mặt ngoài 1/3 giữa đùi trái, để lại 02 sẹo, kích thước lớn và kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (ba phần trăm) và 02% (hai phần trăm).
  • Vết rối loạn sắc tố da vùng má trái, ngực trái, bả vai trái, cánh tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (một phần trăm).
  • Sưng đỉnh trái, bầm xung huyết kết mạc mắt trái đã được điều trị khỏi. Thị lực không kính mắt 10/10 (không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể).

2. Kết luận:

  • Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Sơn Hiếu T1 tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • Kết luận khác: Tổn thương vùng đầu, ngực, mặt, vai là vùng nguy hiểm đến tính mạng. Thương tích môi trên bên phải, vùng gối phải, đùi trái, ngực trái, bả vai trái, cánh tay trái có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên; không xác định được vật gây thương tích vùng đỉnh trái, mắt trái, má trái. Cơ chế hình thành thương tích môi trên bên phải, vùng gối phải, đùi trái, ngực trái, bả vai trái, cánh tay trái có đặc điểm do vật có cạnh sắc trực tiếp tác động gây nên; không xác định được cơ chế hình thành tổn thương vùng đỉnh trái, mắt trái, má trái.

Tại Công văn số 203/TTPY-GĐTH ngày 13/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S xác định, căn cứ Bảng 1, chương 8, phần V Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y nêu “Tổn thương da không để lại sẹo nhưng để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da” thì tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 0,5 - 01% nên không thể tách vết rối loạn sắc tố da vùng má trái.

Tại bản cáo trạng số 33 /CT-VKS-CT ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Phan Thành Đ về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 33 /CT-VKS-CT, ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tuyên bố bị cáo Phan Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phan Thành Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra Cơ quan đã trả lại cho chủ sở hữu các tài sản đã thu giữ mà không liên quan đến vụ án, đối với vật chứng là cây búa tự chế dài khoảng 60 cm, lưỡi búa được làm bằng miếng sắt thắng đĩa xe mô tô cắt làm đôi mài bén, cán búa bằng sắt tròn được gắn vào lưỡi búa bằng miếng kẹp sắt là công cụ bị cáo Đ dùng để gây thương tích cho bị hại T1, sau khi gây thương tích cho T1, trên đường đi về khi đi qua cầu A thì Đ đã quăng cây búa trên xuống sông, quá trình điều tra đã truy tìm đối với vật chứng nêu trên nhưng không thu hồi được nên không đặt ra xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 16.100.000 đồng và ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Đ1 bồi thường số tiền cho bị hại là 2.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận tòa bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về phần trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Tại phiên tòa bị hại trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử theo quy định của pháp luật; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thành Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Văn Đ1 bồi thường tổng số tiền là 18.100.000 đồng.

Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Đ1 trình bày: Ông đồng ý tự nguyện bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng.

Trong phần lời nói sau cùng bị cáo Phan Thành Đ trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Thanh H, người làm chứng ông Phan Anh T2, bà Đinh Ngọc T. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Thanh H, người làm chứng ông Phan Anh T2, bà Đinh Ngọc T được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt của các ông bà không gây trở ngại đến việc xét xử vì trong quá trình điều tra đã có lời khai của họ. Cho nên, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xét xử vắng mặt những người nói trên.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Thành Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở để xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng chỉ vì ghen tuông vô cớ bị cáo Phan Thành Đ đã có hành vi dùng búa tự chế chém vào người bị hại S1 Hiếu Thành gây thương tích, qua giám định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại T1 là 11%. Do đó, cáo trạng số 33/CT-VKS-CT ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Phan Thành Đ về tội “ cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thành Đ là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng sức khỏe con người là vốn quý của xã hội và được pháp luật bảo vệ nhưng chỉ vì ghen tuông mà bị cáo Phan Thành Đ đã dùng búa tự chế là hung khí nguy hiểm chém vào người bị hại Sơn Hiếu T1 gây thương tích 11%. Cho nên, hành vi của bị cáo Phan Thành Đ có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thanh Đ2 là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm cho toàn xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Sơn H1 T1 yêu cầu bị cáo Phan Thành Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Văn Đ1 bồi thường tổng số tiền là 18.100.000 đồng (gồm chi phí khám chữa bệnh 2.000.000 đồng, tiền án uống của người bệnh và người nuôi bệnh 900.000 đồng, tiền công lao động của người nuôi bệnh 1.200.000 đồng, tiền công lao động của người bệnh 9.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng). Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Thành Đ đồng ý bồi thường các khoản theo yêu cầu của bị hại. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đ buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Sơn Hiếu T1 tổng cộng là 18.100.000 đồng. Đối với yêu cầu của bị hại yêu cầu bị cáo Đ và người liên quan Điền có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 18.100.000 đồng. Xét thấy, theo kết quả điều tra xác định thương tích của bị hại là do bị cáo Phan Thành Đ gây ra nên không có căn cứ buộc ông Dương Văn Đ1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Đ1 đồng ý bồi thường cho bị hại T1 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông Đ1. Như vậy bị cáo Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Sơn H1 T1 là 16.100.000 đồng, ông Dương Văn Đ1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại T1 2.000.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chủ sở hữu hợp pháp đối với các tài sản nêu trên, cụ thể: Trả cho ông Sơn Hiếu T1: 01 nón bảo hiểm màu vàng, nhãn hiệu AS, phía sau nón có dòng chữ “Hệ thống xe máy Ánh Sáng”, trên nón có dính nhiều vết bẩn màu xám và vết trầy xướt có nhiều kích cở khác nhau, vành nón màu đen; trả lại cho ông S1 Khánh Tín 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, số loại Wave RSX FI, màu xanh đen, số máy JA52E0455730, số khung RLHJA385XNY141279, biển kiểm soát 83G1-113.32 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 83000175, tên chủ xe S2, biển số đăng ký 83G1-113.32 (bản sao chứng thực); trả lại cho bà Lâm Thị Thanh H: 01 xe máy nhãn hiệu FERROLI, số loại 50-1E, màu đỏ đen, số máy VVT29YX1P39FMB055440, số khung RRKWCB2UMAXB55440, biển kiểm soát 83PT-028.49 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 072632, tên chủ xe Lâm Thị Thanh H, biển số đăng ký 83PT-028.49 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Đối với vật chứng là cây búa tự chế dài khoảng 60 cm, lưỡi búa được làm bằng miếng sắt thắng đĩa xe mô tô cắt làm đôi mài bén, cán búa bằng sắt tròn được gắn vào lưỡi búa bằng miếng kẹp sắt là công cụ bị cáo Đ dùng để gây thương tích cho bị hại T1, sau khi gây thương tích cho T1, trên đường đi về khi đi qua cầu A thì Đ đã quăng cây búa trên xuống sông, quá trình điều tra đã truy tìm đối với vật chứng nêu trên nhưng không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.

[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo Phan Thành Đ là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 805.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Dương Văn Đ1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[11] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Đ1: Quá trình điều tra chứng minh được giữa ông Đ1 và bị hại T1 không có mâu thuẫn gì với nhau, việc Phan Thành Đ chuẩn bị búa tự chế đi gây thương tích cho ông T1 thì Đ1 không biết, Đ và Đ1 cũng không có bàn tính, thỏa thuận trước với nhau, việc Đ dùng xe mô tô đuổi theo T1 gây thương tích thì Đ điều khiển xe đi một mình, Đ1 không có đi chung với Đ. Sự việc Đ1 dùng tay đánh vào mắt T1 01 cái là bộc phát nhất thời, do khi Đ1 đang điều khiển xe thì nghe Đ kêu “Chặn xe lại, chặn xe lại” và thấy hai xe đang rượt đuổi nhau, do trời đã tối không nhận ra người trên xe là ai nên Đ1 nghĩ T1 là người cướp giật tài sản bị Đ đuổi theo nên khi Đ1 thấy T1 nhào vào đánh Đ thì Đ1 nghĩ đã giật đồ còn đánh bạn mình nên Đ1 mới dừng xe lại đi đến dùng tay đánh vào vùng mắt T1 01 cái, nhưng khi đánh xong Đ1 thấy T đứng che cho T1 thì lúc này Đ1 biết Đ ghen tuông với T nên đuổi theo đánh T1 lúc này Đ1 không có đánh T1 nữa mà can ngăn Đ không cho chém T1. Mặt khác, khi tiến hành thực nghiệm điều tra bị hại T1 đã tự mình diễn lại quá trình té ngã ngửa xuống đường là do Đ giơ búa lên định chém T1 thì T1 lùi lại và tự vấp ngã không có ai đạp vào bụng T1, tình tiết này phù hợp với lời khai của Đ và Đ1. Riêng đối với lời trình bày của bị hại Sơn H1 T1 cho rằng Đ và Đ1 cùng đi chung một xe, khi dừng xe lại Đ dùng búa chém T1 trước trúng vào môi, sau đó Đ và Đ1 nhào vào đấm, đá vào người T1, sau đó Đ đạp vào bụng T1 làm T1 té ngã rồi Đ dùng búa chém T1, dùng chân đá T1 nhiều cái, Đ1 thì dùng chân đá vào bụng T1 nhiều cái nhưng trong quá trình điều tra lời khai của bị hại có nhiều mâu thuẫn, quá trình làm việc với Điều tra viên khi tiến hành ghi lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra bị hại liên tục thay đổi lời khai với lý do trước đây không nhớ rõ, từ đó cho thấy lời khai của bị hại không có cơ sở chấp nhận. Mặt khác, quá trình điều tra cũng chứng minh được việc Đ1 đánh T1 01 cái vào vùng mắt chỉ gây bầm xung huyết kết mạc mắt trái đã được điều trị khỏi không để lại tổn thương cơ thể nên Cơ quan điều tra không đặt ra xem xét vai trò đồng phạm của Dương Văn Đ1 trong vụ án này là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Thành Đ.

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Tuyên bố bị cáo Phan Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Xử phạt bị cáo Phan Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thành Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Sơn H1 T1 số tiền là 16.100.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm ngàn đồng), ông Dương Văn Đ1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Sơn H1 T1 số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

  • Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

3. Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a, f khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử buộc bị cáo Bị cáo Phan Thành Đ là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 805.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Ông Dương Văn Đ1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ST;
  • - VKSND tỉnh ST;
  • - VKSND huyện CT;
  • - CQ CSĐT CA huyện CT;
  • - Bị cáo; bị hại; Người LQ;
  • - Chi cục THADS huyện CT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - CAH. Châu Thành;
  • - Nhà tạm giữ - CAH. Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger