|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Chí Thanh.
Ông Nguyễn Ngọc Luân.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức N (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 12 năm 1963 tại: huyện Ý, tỉnh Nam Định.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q (đã chết) và bà Trịnh Thị N1 (đã chết); bị cáo có vợ và 01 con. Bị cáo có 11 anh chị em, là con thứ 06 trong gia đình.
Tiền án: không, tiền sự: không.
- Nhân thân:
- + Năm 1985 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân, quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985.
- + Ngày 10/8/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm 06 tháng tù về Tội mua bán tàng trữ trái phép các chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96a, Điều 33, Điều 34, khoản 3 Điều 100 BLHS năm 1985 sửa bổ sung năm 1989.
- + Ngày 27/3/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, theo quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 245; điểm đ, i khoản 1 Điều 39 BLHS. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 34/HSST ngày 10/8/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, chịu chung hình phạt của 02 bản án là 08 năm 11 tháng 02 ngày tù kể từ ngày 20/9/1999. Đến ngày 28 tháng 4 năm 2005 Nguyễn Đức N chấp hành xong án phạt tù. (Đến thời điểm phạm tội mới đã được xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đào Thị V – sinh năm 1978. Trú tại: Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 15/01/2024 tại Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với: Nguyễn Đức N, sinh năm: 1963. Trú tại: Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 05 gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa cục chất dẻo màu nâu đen nghi là nhựa Thuộc phiện thu giữ tại túi áo khoác bên phải của Nguyễn Đức N. Tiền Ngân hàng N2: 2.570.000 đồng. 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA- Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 26N1-081.24, xe cũ đã qua sử dụng.
Ngày 15/01/ 2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức N và trích rút mẫu để giám định:
- - 01 gói giấy bên trong chứa cục chất dẻo màu nâu đen có khối lượng là 3,49 gam ký hiệu M1 gửi giám định chất ma túy.
- - 01 gói giấy bên trong chứa cục chất dẻo màu nâu đen có khối lượng là 2,09 gam ký hiệu M2 gửi giám định chất ma túy.
- - 01 gói giấy bên trong chứa cục chất dẻo màu nâu đen có khối lượng là 4,00 gam ký hiệu M3 gửi giám định chất ma túy.
- - 01 gói giấy bên trong chứa cục chất dẻo màu nâu đen có khối lượng là 3,58 gam ký hiệu M4 gửi giám định chất ma túy.
- - 01 gói giấy bên trong chứa cục chất dẻo màu nâu đen có khối lượng là 3,65 gam ký hiệu M5 gửi giám định chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 361/KLMT ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu M1 đến M5 gửi giám định đều là ma túy; Loại Thuốc phiện (Nhựa thuốc phiện); Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1= 3,49 gam; M2= 2,09 gam; M3= 4,00 gam; M4= 3,58 gam; M5= 3,65 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 16,81 gam; Loại Thuốc phiện (Nhựa thuốc phiện)”.
Ngày 15/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định số 28, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh S giám định: Số tiền 2.570.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Đức N là tiền thật hay tiền giả. Tại bản kết luận số 374 ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Số tiền 2.570.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Đức N là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức N khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, bị cáo mang theo số tiền 3.570.000 đồng rồi điều khiển xe máy BKS: 26N1- 081.24 đi từ Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y đến đến Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y để ăn sáng. Đi đến địa phận cuối Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y (giáp danh với Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y), Nguyễn Đức N gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đang dắt xe máy ngoài đường. N dừng xe máy và nói chuyện với người đàn ông dân tộc Mông thì biết được người đàn ông dân tộc Mông có 05 gói Thuốc phiện muốn bán. Do đang bị nhiễm HIV và nghĩ sử dụng Thuốc phiện sẽ có tác dụng chữa bệnh nên N hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc Mông này 05 gói giấy bên trong chứa nhựa Thuốc phiện với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu số ma túy vào trong túi áo khoác bên phải rồi điều khiển xe máy đến Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y ăn sáng. Khi N đi đến địa phận Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSYC ngày 08/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Nguyễn Đức N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng Đ b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi vật chứng vụ Nguyễn Đức N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 05 mảnh giấy vật chứng ban đầu.
Trả lại cho bị cáo 2.570.000 đồng Tiền Ngân hàng N2.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đào Thị V 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA- Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 26N1- 081.24, xe cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến xin lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA- Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 26N1-081.24, xe cũ đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/01/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 15/01/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 15/01/2024, Kết luận giám định số 361/KL-KLHS ngày 18/01/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/01/2024, Nguyễn Đức N đã mua trái phép 05 gói nhựa Thuốc phiện với giá 1.000.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Đức N mang nhựa Thuốc phiện đến Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang, thu giữ 16,81 gam nhựa Thuốc phiện. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Nguyễn Đức N là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Không có tiền án, tiền sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Đức Q được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã 03 lần bị Tòa án xử phạt: Năm 1985 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân, quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Ngày 10/8/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm 06 tháng tù về Tội mua bán tàng trữ trái phép các chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96a, Điều 33, Điều 34, khoản 3 Điều 100 BLHS năm 1985 sửa bổ sung năm 1989. Ngày 27/3/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 245; điểm d, i khoản 1 Điều 39 BLHS. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 34/HSST ngày 10/8/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, chịu chung hình phạt của 02 bản án là 08 năm 11 tháng 02 ngày tù kể từ ngày 20/9/1999. Đến ngày 28 tháng 4 năm 2005 Nguyễn Đức N chấp hành xong án phạt tù. (Đến thời điểm phạm tội mới đã được xóa án tích).
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, nhưng do nghiện ma túy coi thường pháp luật, biết việc mua bán và tàng trữ, sử dụng ma túy là hành vi bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vì nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn có hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã 03 lần bị Tòa án xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật, nhưng sau khi chấp hành hình phạt quay trở về địa phương làm ăn sinh sống vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy. Việc bị cáo liên tục có các hành vi vi phạm pháp luật thể hiện sự coi thường pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, hối cải của bị cáo.
Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền sự của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm vật chứng vụ Nguyễn Đức N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 05 mảnh giấy vật chứng ban đầu, xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA- Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 26N1- 081.24, xe cũ đã qua sử dụng. Xét thấy chiếc xe máy trên có nguồn gốc được mua bằng tiền chung của gia đình bị cáo, là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bị cáo, đồng thời là phương tiện đi lại duy nhất trong nhà, phục vụ chung cho gia đình, việc bị cáo lấy xe máy để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội đi mua ma túy để sử dụng, vợ bị cáo cùng gia đình không được biết, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam. Do đó HĐXX quyết định trả lại chiếc xe máy cho vợ bị cáo là chị Đào Thị V, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 2.570.000 đồng tiền Ngân hàng N2: Xét thấy số tiền của bị cáo là vật chứng không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Đức N, theo lời khai của N đó là người đàn ông dân tộc M, khoảng 50 tuổi (N không biết tên, địa chỉ). Nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra tại Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y (giáp ranh với Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y), chỉ có N và người đàn ông dân tộc Mông đó biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Y không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 05 mảnh giấy vật chứng ban đầu.
Trả lại cho bị cáo 2.570.000 đồng Tiền Ngân hàng N2.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đào Thị V 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA- Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 26N1- 081.24, xe cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/06/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Ngọc Tàng trữ trái phép chất ma túy
