|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 01 - 12 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên, bà Đỗ Thị Chúc.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Đỗ Tràng Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đinh Đại T, sinh ngày 26/02/1989 tại xã Đ, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã Đ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T1 – sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị B – sinh năm 1963; có vợ là Bùi Thị Ả (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2011;
Tiền án: Ngày 18/11/2022, Đinh Đại T bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 22/2022/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/11/2022, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 11/10/2024 (chưa được xoá án tích);
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/3/2018, Đinh Đại T bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 75/2018/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/4/2018, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 29/8/2019 (đã được xoá án tích);
- Ngày 21/7/2015, Đinh Đại T bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong (đã được xoá tiền sự);
- Ngày 15/12/2019, Đinh Đại T bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong (đã được xoá tiền sự);
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2025 đến nay; có mặt.
2. Đinh Văn S, sinh ngày 21/10/1976 tại xã Đ, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã Đ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Nam G (đã chết) và bà Hà Thị P – sinh năm 1951; có vợ là Quàng Thị N – sinh năm 1978, có 02 con sinh lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/5/2005, Đinh Văn S bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 54 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Bản án số 101/2005/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm, tiền truy thu sung công quỹ nhà nước và tiền phạt ngày 01/8/2008, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 11/3/2009 (đã được xoá án tích);
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay; có mặt.
3. Đinh Văn P1, sinh ngày 24/11/1998 tại xã Đ, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã Đ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T2 – sinh năm 1973 và bà Đinh Thị Â – sinh năm 1979; có vợ là Đinh Thị H – sinh năm 2000, có 02 con – sinh lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 08/7/2025, Đinh Văn P1 bị Công an xã Đ, tỉnh Sơn La ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt cảnh cáo;
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 25 phút ngày 09/7/2025, tổ công tác Công an xã Đ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Tà Lại, xã Đ, tỉnh Sơn La kiểm tra đối với Đinh Văn P1 đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Đinh Văn P1 đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là H1. Đinh Văn P1 khai nhận đó là gói H1 do P1 vừa góp tiền cùng với Đinh Văn S đi mua của Đinh Đại T mang về mục đích để chia nhau cùng sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Đinh Văn P1, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ của Đinh Văn P1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO v2026 màu xanh đen bên trong có 02 sim số 0879.742.965 và số 0349.664.008 để điều tra xử lý. Công an xã Đ, tỉnh Sơn La test ma túy đối với Đinh Văn P1, kết quả dương tính với ma túy.
Mở rộng điều tra, cùng ngày 09/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn S. Quá trình bắt giữ tạm giữ của Sao 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung bên trong có hai sim số 0326.663.308 và số 0325.722.269. Công an xã Đ, tỉnh Sơn La test ma túy đối với Đinh Văn S, kết quả dương tính với ma túy.
Ngày 09/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng số vật chứng nghi là Heroine thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn P1 được 0,14 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu P. Tại kết luận giám định số 769 ngày 16/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“- Mẫu giám định P gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh S đã tiến hành cho Đinh Văn P1 và Đinh Văn S nhận dạng đối với Đinh Đại T. Ngày 09/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã kiểm tra nội dung thông tin lưu trữ trên điện thoại di động của Đinh Văn S và Đinh Văn P1. Kết quả trên nhật ký điện thoại hiển thị nhiều cuộc gọi.
Ngày 20/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đinh Đại T. Quá trình bắt giữ tạm giữ của T 01 sim điện thoại có số thuê bao 0836078689. Cơ quan điều tra test ma túy đối với Đinh Đại T, kết quả âm tính với ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Đinh Văn P1, Đinh Văn S và Đinh Đại T khai nhận: Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 là các đối tượng nghiện chất ma túy và có quen biết nhau từ trước vì cùng sinh sống tại một khu vực, P1 là em rể của T. Khoảng đầu tháng 7 năm 2025, Đinh Đại T đi đến bản P, phường T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 300.000 đồng, mục đích mang về nhà cất giấu để sử dụng dần và bán kiếm lời.
Sáng ngày 09/7/2025, Đinh Văn S sử dụng số điện thoại 0325.722.xxx gọi vào số điện thoại 0349.664.xxx của Đinh Văn P1 hỏi P1 biết chỗ nào bán ma túy thì xoay 200.000 đồng đi mua mang về rồi chia nhau sử dụng và hỏi P1 biết chỗ nào bán ma túy thì đi mua? P1 bảo chỉ có 170.000 đồng nhưng phải ở nhà trông con, nếu Sao đi mua được thì P1 sẽ gọi cho T giao dịch mua ma túy để Sao đến lấy ma túy. Sau đó, P1 gọi điện thoại cho T hỏi mua 200.000 đồng Heroine và thoả thuận địa điểm giao nhận ma túy là tại khu ruộng của bản, khi nào S đi đến thì T giao ma túy cho S. Sao đi đến nhà P1, P1 nói chỉ còn 170.000 đồng, sau đó P1 đưa tiền, số điện thoại của T cho S. Sao bỏ ra 30.000 đồng được tổng cộng 200.000 đồng rồi đi bộ đến khu vực ngã ba N Sao gọi điện thoại cho P1 bảo P1 điện thoại cho T để S đến mua ma túy. Khi T đang ở nhà thì Đinh Văn P1 sử dụng số điện thoại 0349.664.xxx gọi điện thoại vào số thuê bao 0836.078.689 của T bảo T mang ma túy ra khu ruộng để bán cho Sao. T lấy một ít Heroine gói bằng một mảnh nilon màu xanh, sau đó khi S gọi điện thoại cho T được T chỉ dẫn đến vị trí T đợi tại đường dân sinh của bản T, xã Đ. Khi S đi đến, T đưa cho S 01 gói Heroine, Sao đưa cho T 200.000 đồng. Sao cầm gói ma túy đi về, khi đến đường dân sinh bản Suối Mõ, xã Đ thì vào bụi cây ven đường lấy một ít ma túy ra rồi dùng bật lửa, giấy bạc đã chuẩn bị sẵn sử dụng ma túy bằng hình thức đốt, hít khói vào cơ thể. Sau đó Sao gói số ma túy lại như cũ, mang đến nhà giao cho P1. Khi Đinh Văn P1 cầm gói ma túy đi bộ trên đường dân sinh thuộc bản T, xã Đ để mang về nhà thì bị tổ công tác Công an xã Đ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Đối với Đinh Văn T3, sau khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, T3 đã đi xuống khu vực tỉnh Hưng Yên để làm thuê. Đến ngày 20/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra Lệnh bắt bị can để tạm giam. Đối với chiếc điện thoại T3 sử dụng vào ngày 09/7/2025 để liên lạc bán ma túy cho P1 và S, T3 đã vứt đi trong khi làm thuê ở tỉnh Hưng Yên. Đối với số tiền 200.000 đồng có được sau khi bán ma túy, T3 đã sử dụng hết để chi tiêu cá nhân.
Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Đinh Đại T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); truy tố các bị cáo Đinh Văn S, Đinh Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Tại phiên tòa: Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
* Tranh luận tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Đại T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tuyên bố các bị cáo Đinh Văn S, Đinh Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Về vật chứng của vụ án, áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh; các sim số điện thoại 0326.663.xxx và 0325.722.269 thu giữ của Đinh Văn S; các sim số điện thoại 0879.742.xxx và số 0349.664.008 thu giữ của Đinh Văn P1; sim số điện thoại 0836.078.xxx thu giữ của Đinh Đại T.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Văn S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen thu giữ của Đinh Văn P1.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng đối với bị cáo Đinh Đại T.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đinh Đại T từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn S từ 03 (ba) năm, 03 (ba) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn P1 từ 03 (ba) năm, 03 (ba) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
* Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã Đ thu giữ vào ngày 09/7/2025 có nguồn gốc do Đinh Đại T mua được của một người đàn ông không quen biết để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 09/7/2025, Đinh Văn S và Đinh Văn P1 đã bàn nhau cùng góp được số tiền 200.000 đồng để P1 thỏa thuận mua Heroine của T, sau đó bảo Sao đến nhận ma túy từ T. Sao cầm 200.000 đồng mang đến đưa cho T và nhận của T một gói Heroine, sau khi có được ma túy Sao đã lấy ra một phần ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại có khối lượng 0,14 gam Heroine Sao mang về đưa cho P1 mục đích để P1 sử dụng. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Đ lập vào hồi 10 giờ 25 phút ngày 09/7/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên vào khoảng đầu tháng 7/2025 bị cáo Đinh Đại T đã có hành vi mua 01 gói Heroine mang về nhà cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Ngày 09/7/2025, bị cáo Đinh Đại T đã bán cho bị cáo Đinh Văn P1 0,14 gam Heroine với giá 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đinh Đại T đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quy định mức hình phạt là hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Bị cáo Đinh Đại T đã bán trái phép 0,14 gam Heroine cho Đinh Văn P1 và Đinh Văn S. Quá trình điều tra xác định mục đích của T là bán ma túy cho Đinh Văn P1, sau đó do P1 nhờ Sao đi nhận ma túy, T không đồng thời bán ma túy cho 02 người. Do vậy hành vi của T không thuộc tình tiết định khung tặng nặng “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Ngày 09/7/2025, bị cáo Đinh Văn S đã khởi xướng, rủ bị cáo Đinh Văn P1 cùng góp được số tiền 200.000 đồng (trong đó của P1 170.000 đồng, của Sao 30.000 đồng) để P1 thỏa thuận mua Heroine của T, sau đó Sao đến nhận ma túy từ T. Sao cầm 200.000 đồng mang đến đưa cho T và nhận của T một gói Heroine, sau khi có được ma túy Sao đã lấy ra một phần ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại có khối lượng 0,14 gam Heroine Sao mang về đưa cho P1 mục đích để P1 sử dụng, trên đường P đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Đinh Văn P1 và Đinh Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Do hành vi của các bị cáo Đinh Văn P1, Đinh Văn S được thực hiện sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Điều 249 Bộ luật hình sự, khung hình phạt tù xét xử đối với các bị cáo từ 03 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về vai trò đồng phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Đinh Văn S, Đinh Văn P1 phạm tội trong trường hợp đồng phạm, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo. Phân hóa vai trò của các bị cáo xét thấy bị cáo bị cáo Đinh Văn S là người khởi xướng việc đi mua ma tuý, cùng góp tiền để mua ma túy và trực tiếp đi nhận ma túy; bị cáo Đinh Văn P1 là người cùng bàn bạc, góp tiền đi mua ma túy, trực tiếp liên hệ mua ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 18/11/2022, Đinh Đại T bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 22/2022/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/11/2022, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 11/10/2024. Bị cáo chưa được xóa án tích mà ngày lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội của bị cáo trong lần phạm tội tại vụ án này thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Các bị cáo Đinh Văn S, Đinh Văn P1 đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn S, Đinh Văn P1.
Bị cáo Đinh Văn S có bố đẻ là ông Đinh Văn G1 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 đều là đối tượng nghiện chất ma túy. Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S có nhân thân rất xấu, Đinh Đại T đã nhiều lần bị kết án về tội phạm ma túy và đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc vì nghiện ma túy, Đinh Văn S đã bị kết án về tội phạm ma túy nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục tái nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối 01 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh; các sim số điện thoại 0326.663.xxx và 0325.722.269 thu giữ của Đinh Văn S; các sim số điện thoại 0879.742.xxx và số 0349.664.008 thu giữ của Đinh Văn P1; sim số điện thoại 0836.078.xxx thu giữ của Đinh Đại T, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Văn S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen thu giữ của Đinh Văn P1, xét thấy là công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 200.000 đồng của bị cáo Đinh Đại T do bán ma túy cho Đinh Văn P1 mà có, bị cáo Đinh Đại T đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Xét thấy đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có, cần truy thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Văn P1 và Đinh Văn S, xét thấy Đinh Văn P1 và Đinh Văn S không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự, ngày 16/7/2025 Công an tỉnh S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Văn P1 và Đinh Văn S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đinh Đại T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Đinh Đại T phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.
Đối với chiếc điện thoại T sử dụng để liên lạc bán ma túy và số tiền 200.000 đồng T thu lời từ việc bán ma túy. Do T đã vứt chiếc điện thoại, cũng như chi tiêu hết số tiền. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không thu giữ, truy tìm lại được.
Thời hạn tạm giam đối với các bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Đinh Đại T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đinh Đại T 04 (bốn) năm, 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn S 03 (ba) năm, 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
1.3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn P1 03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh; các sim số điện thoại 0326.663.xxx và 0325.722.269 thu giữ của Đinh Văn S; các sim số điện thoại 0879.742.xxx và số 0349.664.008 thu giữ của Đinh Văn P1; sim số điện thoại 0836.078.xxx thu giữ của Đinh Đại T.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Văn S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen thu giữ của Đinh Văn P1.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Đinh Đại T.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 42/BBVC-THA ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đinh Đại T, Đinh Văn S, Đinh Văn P1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09/7/2025, Đinh Văn S và Đinh Văn P đã bàn nhau cùng góp được số tiền 200.000 đồng để Phú thỏa thuận mua Heroine của T, sau đó bảo S đến nhận ma túy từ T. S cầm 200.000 đồng mang đến đưa cho T và nhận của T một gói Heroine, sau khi có được ma túy S đã lấy ra một phần ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại có khối lượng 0,14 gam Heroine S mang về đưa cho P mục đích để P sử dụng.
