|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 18-11-2025 |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
— Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Trung Thành; 2. Ông Lê Xuân Lâm.
— Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thanh Hóa.
— Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thanh Hóa: Bà Quách Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/8/2003 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An); Thẻ CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Thành Q và bà: Hoàng Thị D; Tiền sự: Không; Tiền án: 01, ngày 22/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Bản án số: 35/2022/HS-ST (tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2025; Ngày 12/5/2025 chuyển tạm giam. Hiện nay, bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, Công an tỉnh T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Đình T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/02/1991 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã T, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An); Thẻ CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Đình Đ, (đã chết) và bà: Trần Thị L; Có vợ tên là: Cụt Thị L1 và có 01 con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2025; Ngày 13/5/2025 chuyển tạm giam. Hiện nay, bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, Công an tỉnh T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
— Người làm chứng:
1) Anh Hoàng Xuân D1; Sinh năm: 2004; Địa chỉ: xã N, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
2) Chị Lê Thị T1; Sinh năm: 1990; Địa chỉ: thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 06/5/2025, tổ công tác của Công an thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là Công an xã N, tỉnh Thanh Hóa) trong quá trình tuần tra, kiểm soát về an ninh trật tự tại địa bàn. Khi đến quán ăn đêm Lượng L2, địa chỉ: khu phố M, thị trấn Y, huyện N đã phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên phải của người nam thanh niên khai báo tên là Nguyễn Quang H; sinh năm 2003; trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã N, tỉnh Nghệ An) có 02 bọc túi nilông, bọc thứ nhất chứa 04 viên nén màu hồng đậm và bọc thứ hai chứa 05 viên nén màu hồng đậm. Theo Nguyễn Quang H khai nhận, các viên nén nêu trên là ma túy hồng phiến, mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác của Công an Thị trấn Y (cũ) đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong số tang vật và đồ vật có liên quan.
Quá trình điều tra Nguyễn Quang H khai nhận: Do quen biết xã hội chơi với nhau và có nhu cầu sử dụng ma túy hồng phiến, nên khoảng 20 giờ ngày 05/5/2025 Nguyễn Quang H gọi qua ứng dụng Z cho Nguyễn Đình T hỏi có biết chỗ nào bán ma túy hồng phiến thì mua giúp cho 1.000.000₫ (một triệu đồng), mục đích để sử dụng cho bản thân. T đồng ý và bảo H chuyển tiền trước cho mình vào số tài khoản cá nhân của T tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, số tài khoản là: 5130589428, để T đi tìm mua ma túy. Nguyễn Quang H đã sử dụng số tài khoản cá nhân của mình đăng ký tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C, số tài khoản là: 101881522532, chuyển khoản cho T số tiền 1.200.000đ, trong đó: 1.000.000₫ là tiền mua ma túy, 200.000₫ là tiền H trả nợ cho T. Sau khi nhận được tiền của H chuyển, T đi bộ một mình từ nhà trọ của mình ở xã T, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An) ra ngoài đường Q, mục đích tìm mua ma túy hồng phiến cho H. Khi đang đi bộ trên đường, T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi đang đi xe máy nên xin đi nhờ xe, thì người đàn ông đồng ý và chở T đi lên hướng xã Đ. Quá trình đi nhờ xe, qua nói chuyện với nhau người đàn ông giới thiệu tên là P và nói có sẵn ma túy hồng phiến bán, nên T hỏi mua 1.000.000₫ (một triệu đồng), P đồng ý bán, T đưa cho P 02 (hai) tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000đ/tờ, P cầm tiền và bán cho T 10 (mười) viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà trọ của mình, được một lát thì Nguyễn Quang H gọi qua zalo cho T, hỏi đã mua được ma túy chưa, T bảo đã mua được và bảo H đến lấy. Sau đó, H nhờ người anh họ của mình tên là Hoàng Xuân D1, sinh năm 2004, nơi thường trú: Xã N, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) dùng xe máy chở đi lên gần nhà trọ của T ở xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An nói đi việc cá nhân, nhưng mục đích là đi lên gặp T để lấy ma túy nhờ mua. Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, Hoàng Xuân D1 chở H đi theo Quốc lộ D đến xã T, huyện Q, khi đến gần ngõ vào nhà trọ của T, thì H bảo D1 dừng xe chờ ở ven đường, còn H đi bộ sang qua đường gặp T. Tại đây, T đưa cho H 02 (hai) túi nilon, mỗi túi có 05 (năm) viên ma túy hồng phiến, sau khi H cầm 02 (hai) túi ma túy của T đưa, thì T xin H cho 01 (một) viên để dụng. Lúc này, H đã cho T 01 (một) viên hồng phiến, rồi cất giấu số ma túy còn lại vào trong túi áo khoác đang mặc trên người và đi bộ sang đường lại chỗ D1 đang đứng đợi và bảo D1 chở sang thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để đi xăm mình.
Do có quan hệ xã hội với nhau và hẹn từ trước, nên khoảng hơn 23 giờ 30 phút cùng ngày, H và D1 đi xe máy sang đến thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa gặp Lê Thị T1, sinh năm 1990, nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa (trước đây là huyện N, tỉnh Thanh Hóa) để giao lưu xã giao với nhau. Sau khi gặp nhau, Lê Thị T1 đã mời H và D1 đi đến quán ăn L3, ở khu phố M để ăn đêm. Trong lúc đang ngồi ăn đêm ở quán ăn L3 thì bị lực lượng Công an thị trấn Y (nay là công an xã N) đi tuần tra, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Quang H tàng trữ 09 viên ma tuý hồng phiến trong người. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ ma tuý, niêm phong 09 viên nén nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số: 1603/KL-KTHS ngày 09/5/2025 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: 09 (chín) viên nén màu hồng đậm thu giữ của Nguyễn Quang H, có tổng khối lượng 0,942g, loại: Methamphetamine.
Ngày 06/5/2025, Nguyễn Đình T đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV10 ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khỏan 1 Điều 53, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H mức án từ 20 đến 24 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.
-
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T mức án từ 18 đến 21 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.
— Không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự làm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T.
— Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì. Lời nói sau cùng các bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của các bị cáo thấy rằng: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 40 phút, ngày 06/5/2025, tại quán ăn đêm Lượng L2 thuộc địa phận khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn M, xã N, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Quang H bị Tổ công tác Công an thị trấn Y phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong người 09 (năm) viên hồng phiến nhằm mục đích để sử dụng, qua giám định có khối lượng là 0,942 gam, loại Methamphetamine. Qua đấu tranh H khai nhận nguồn gốc số ma túy trên là H nhờ Nguyễn Đình T ở trọ tại xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An mua cho mình, mục đích sử dụng cho bản thân. Nhận thức được hành vi mua ma túy là hồng phiến cho Nguyễn Quang H với mục đích để sử dụng là vi phạm phát luật, nên Nguyễn Đình T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N (cũ) để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, bị xã hội lên án, phẫn nộ. Xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc và cấu kết chặt chẽ với nhau.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang H: Là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp đưa tiền cho bị cáo T đi mua ma túy để tàng trữ, nhằm mục đích sử dụng nên bị cáo H có vai trò chính và phải chịu trách nhiệm Hình sự cao hơn bị cáo T.
Đối với bị cáo Nguyễn Đình T: Khi H bị lôi kéo, rủ rê, nhờ đi mua ma túy để sử dụng, bị cáo đã nhiệt tình hưởng ứng để thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò thứ hai và chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo H.
Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của từng bị cáo để đưa ra mức hình phạt cho phù hợp.
[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo Nguyễn Quang H: Tiền sự: không; Tiền án: 01, ngày 22/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Lẽ ra sau lần phạm tội trước, bị cáo phải nhận thức được lỗi lầm của mình để cố gắng cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, điều đó chứng tỏ sự liều lĩnh cũng như coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù hợp. Từ sự phân tích, cá thể hóa về nhân thân, trách nhiệm hình sự của bị cáo; căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là cần thiết.
Đối với bị cáo Nguyễn Đình T: Trong vụ án này bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải trước lỗi lầm đã phạm và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nên khi lượng hình cần được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.
[6] Xét về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập thường xuyên, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện gặp nhiều khó khăn và các bị cáo thuộc đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T là phù hợp.
[7] Về vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Anh T3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và số ma túy còn lại sau giám định, đây là vật chứng của vụ án thuộc trường hợp cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNO KG6, màu xanh, gắn sim số: 0328577424 và 0856304256; 01 điện thoại di động Iphone XS, màu vàng, imei 1: 357201096217883, imei 2: 357201096329522, máy đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là những vật chứng của vụ án mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu giao cho P1 Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hoá tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được sung vào công quỹ Nhà nước.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2025 giữa Công an và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hoá.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên là P, khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho Nguyễn Đình T vào tối ngày 05/6/2025. Do T gặp và làm quen với đối tượng tên P nhưng không hỏi địa chỉ, họ tên đầy đủ của P, còn tên P là tên thật hay giả thì T không khẳng định được, vì là lần đầu gặp nhau và được P tự giới thiệu tên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ, xử lý trong vụ án này. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục trao đổi thông tin nghiệp vụ liên quan về đối tượng P để xác minh, nếu có đủ căn cứ thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Hoàng Xuân D1, sinh năm 2004, nơi thường trú: xom H, xã N, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) và Lê Thị T1, sinh năm1990, nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa: Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm trong vụ án này. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục trao đổi thông tin nghiệp vụ có liên quan cho các đơn vị Công an nơi đối tượng cư trú, để có biện pháp nghiệp vụ xác minh quản lý, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khỏan 1 Điều 53, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 24 (Hai bốn) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 06/05/2025.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 07/05/2025.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Anh T3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và số ma túy còn lại sau giám định;
- Tịch thu giao cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hóa tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được sung vào công quỹ Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNO KG6, màu xanh, gắn sim số: 0328577424 và 0856304256; 01 điện thoại di động Iphone XS, màu vàng, imei 1: 357201096217883, imei 2: 357201096329522, máy đã cũ, đã qua sử dụng.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2025 giữa Công an và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Thanh Hoá
Về phần án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; Điều 331 và Điều 333 BLTTHS 2015; Điều 6; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Quang H và Nguyễn Đình T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Công Tuấn |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Trung Thành; Lê Xuân Lâm |
Ngô Công Tuấn |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang H và đồng phạm phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy
