|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:36/2025/HSST
Ngày: 17/6/2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Hiệp và bà Lương Thị Huân
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp và tại điểm cầu của Trại tạm giam Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2025 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53 ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
Vi Văn K – tên gọi khác: không; sinh ngày 11/10/2004; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Vi Văn N, sinh năm 1977 và bà Vi Thị L, sinh năm 1983; vợ, con: chưa; tiền sự: không; Tiền án: Ngày 15/3/2023 bị TAND huyện Quỳ Hợp xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/6/2023 chưa được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/3/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Anh Đ – tên gọi khác: không; sinh ngày 01/3/2002; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Xóm X, xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Văn T, đã chết và bà Võ Thị L1, sinh năm 1980; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2025 đến ngày 18/3/2025 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (Có đơn xin xử vắng mặt).
Trú tại: K, thị trấn Q, huyện Q, Nghệ An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975
Trú tại: Xóm M, xã M, huyện Q, Nghệ An. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn K có bà Nguyễn Thị Quỳnh T2, trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn K và Nguyễn Anh Đ bị truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 09/3/2025, K và Đ đi bộ qua đoạn đường thuộc khối F, thị trấn Q, huyện Q thì thây có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 37H1 – 220.72 màu đỏ đen của chị Nguyễn Thị H trú tại khối F, thị trấn Q đang dựng trên vỉa hè, trước cổng nhà chị H và có cắm sẵn chìa khóa ở ổ khóa, Đ và K đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này Đ nói với K “em đi lên phía trước một đoạn để anh trộm chiếc xe ni rồi anh đi lên đón ta mang đi cắm lấy tiền” thì K đồng ý. K đi bộ lên gần ngã ba đường rẽ đi xã C, huyện Q đứng đợi còn Đ đi đến lấy trộm chiếc xe mô tô trên rồi chạy đến chở K đi về hướng xã C, huyện Q. Cả hai thống nhất sẽ đưa chiếc xe xuống khu vực 3/2 để cầm cố lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi, Đ và K kiểm tra bên trong cốp xe thì phát hiện có một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, một giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Thị H, một sổ hộ khẩu mang tên Võ Văn Đ1. Sau đó cả hai tiếp tục điều khiển xe mô tô đi xuống khu vực cầu D, thuộc xã N, huyện Q thì gặp Cao Xuân T3, sinh năm 1980, trú tại xóm M, xã M, huyện Q (là bạn nghiện ma túy với K). K hỏi T3 có biết chỗ nào cầm cố xe mô tô không thì T3 dẫn Đ1 đến nhà anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, trú tại xóm M, xã M, huyện Q để cầm cố xe còn K đứng bên đường đợi T3 và Đ1. Khi gặp T1 thì Đ1 nói với T1 và T3 đây là chiếc xe mô tô của mẹ Đ1, đồng thời lấy đăng ký xe máy trong cốp xe ra đưa cho T1 để làm tin. Do đó T1 đã đồng ý cho Đ1 cầm cố chiếc xe mô tô nói trên với số tiền 2.000.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ1 và T3 bắt xe buýt, đồng thời đón K rồi cả ba cùng nhau lên thị trấn Q. Khi Đ1, T3 và K xuống xe tại khu vực sân bóng nhân tạo thuộc khối H, thị trấn Q, huyện Q thì T3 gặp Hoàng Thành L2, sinh năm 1986, trú tại khối H, thị trấn Q, huyện Q. T3 có nhờ L2 đi mua ma túy giúp, Đ1 đưa cho L2 số tiền 500.000 đồng rồi Đ1 đi cùng với L2 xuống chợ thị trấn Q để mua kim tiêm và nước cất. Còn L2 đi xuống khu vực dốc Thực phẩm, gần bến xe huyện Q gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua một gói ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý thì cả nhóm chia nhau mỗi người một ít.
Chị Nguyễn Thị H sau khi phát hiện bị mất chiếc xe máy nêu trên thì làm đơn trình báo sự việc lên công an thị trấn Q. Chiều ngày 09/3/2025, Nguyễn Anh Đ và Vi Văn K đến công an thị trấn Q đầu thú đồng thời giao nộp số tiền 1.200.000đ. Chiếc xe máy của chị Nguyễn Thị H sau đó cũng được B công an thị trấn thu hồi tại nhà của anh Nguyễn Văn T1.
Kết luận của cơ quan chức năng định giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 37H1 – 220.72 màu đỏ đen, số khung 3227EY072517, số máy JA 32E0072589 dung tích 109, xe đăng ký lần đầu ngày 21/02/2016 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị các bị cáo chiếm đoạt là 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
Tại Bản cáo trạng số 34/VKS – HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp đã truy tố Vi Văn K và Nguyễn Anh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: Áp dụng khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Vi Văn K từ 09 đến 12 tháng tù; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 38, điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ từ 06 đến 09 tháng tù. Miễn phạt bổ sung các bị cáo do có hoàn cảnh khó khăn.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì về mặt dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh Đ trả lại cho anh số tiền 2.000.000₫ (hai triệu đồng) là tiền Đ đã cầm cắm chiếc xe máy của chị H cho anh T1.
Về vật chứng vụ án: Chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị H đã được cơ quan điều tra Công An trả lại cho cho chị Nguyễn Thị H.
Đối với số tiền 1.200.000₫ mà bị cáo Nguyễn Anh Đ giao nộp cho Công An thị trấn Q thì đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Có mặt tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Vi Văn K trình bày: Việc Vi Văn K phạm tội trộm cắp tài sản thì đã rõ ràng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện phạm tội cho bị cáo bởi trong vụ án này, người khởi xướng, rủ rê là Nguyễn Anh Đ, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tài sản đã được trả lại cho bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Vi Văn K ở đầu mức như vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp đề xuất là phù hợp.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời nhận tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và loại tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt. Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ đó xác định được vào sáng ngày 09/3/2025 tại khu vực khối F, thị trấn Q, huyện Q, Vi Văn K và Nguyễn Anh Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen Biển kiểm soát 37H1 - 220.72 của chị Nguyễn Thị H trị giá chiếc xe máy là 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vi Văn K và Nguyễn Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm khoản 1 điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp quy kết là có căn cứ pháp luật.
Các bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do thiếu ý thức rèn luyện và động cơ vụ lợi muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị Nguyễn Thị H gây mất trật tự trị an, gây tâm lý lo lắng cho người dân nói chung.
Đối với người bị hại tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại đầy đủ, chị H không yêu cầu gì nữa. Đối với anh Nguyễn Văn T1, anh đã đưa cho Nguyễn Anh Đ số tiền 2.000.000₫ (hai triệu đồng) để cầm cắm xe. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay chứng minh được anh T1 không biết chiếc xe máy này do các bị cáo phạm tội mà có nên anh T1 không đồng phạm với các bị cáo, tuy nhiên anh T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về việc cầm cố tài sản khi không có đăng ký kinh doanh. Tại phiên toà anh T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh Đ phải trả lại cho anh T1 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Yêu cầu của anh T1 là hợp pháp, tuy nhiên trong vụ việc này buộc cả hai bị cáo Vi Văn K và Nguyễn Anh Đ phải hoàn trả số tiền trên cho anh T1 bởi các bị cáo đã chi tiêu chung trong số tiền này.
Xét thân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:
Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo Vi Văn K có tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Thấy trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo Vi Văn K tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học cho mình nên cần xử nghiêm hơn đối với bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ bị cáo là người khởi xướng, rủ rê bị cáo K cùng tham gia phạm tội nên cần lên một mức án nghiêm để giáo dục bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi tại Phòng G, Kho bạc khu vực X cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Vi Văn K, Nguyễn Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38, điều 58 BLHS, xử phạt bị cáo Vi Văn K 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 09/3/2025.
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1,2 điều 51, điều 38, điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/3/2025 đến ngày 18/3/2025.
Về dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Hiện đang tạm gửi tại Phòng G, Kho bạc khu vực X.
Buộc các bị cáo Nguyễn Anh Đ và Vi Văn K mỗi bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vi Văn A và Nguyễn Anh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, vắng mặt người bị hại, có mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người bị hại biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |
Bản án số 36/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 36/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
