Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HSST

Ngày: 08 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Khoa

Ông: Nguyễn Đắc Hưng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị L và ông Trịnh Hữu D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXX- ST, ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đậu Hùng C - Sinh ngày 10/5/1981, số CCCD [...], tại phường T, thị xã N, Thanh Hóa; Nơi cư trú hiện nay: TDP C, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông: Đậu Trọng L1 – sinh năm 1952 và con bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1962; Vợ: Trần Thị P – sinh năm 1982, có hai con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/8/2012, bị Công an quận H, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2025 đến ngày 20/01/2025 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Lê Ánh D1 – sinh năm 1979
  • Địa chỉ: TDP T, phường T, thị xã N, Thanh Hóa
  • + Cao Mạnh L2 – sinh năm 1987
  • Địa chỉ: TDP S, phường N, thị xã N, Thanh Hóa
  • + Hồ Thị L3 – sinh năm 1969
  • Địa chỉ: TDP H, phường T, thị xã N, Thanh Hóa
  • + Hoàng Văn S – sinh năm 1988
  • Địa chỉ: TDP H, phường T, thị xã N, Thanh Hóa
  • + Nguyễn Văn C1 – sinh năm 1979
  • Địa chỉ: TDP H, phường H, TX. N, Thanh Hóa
  • + Hồ Văn T1 – sinh năm 1991
  • + Hồ Văn Q – sinh năm 1983

Đều có địa chỉ: TDP H, phường T, thị xã N, Thanh Hóa

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2022 đến ngày 04/02/2025, Đậu Hùng C (sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố C, phường H, thị xã N) đã cho 07 cá nhân trên địa bàn thị xã vay tiền dưới hình thức cho vay tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp), không xác định thời hạn vay, với lãi suất thoả thuận là 3.000 đồng/triệu/ngày, tương ứng lãi suất 108%/năm, cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. C thu lãi theo tháng (mỗi tháng tính bằng 30 ngày), riêng tháng đầu C cắt lãi trước từ gốc vay. Người vay trả nợ gốc và lãi qua tài khoản số 1410198288888 ngân hàng MB của C hoặc trả trực tiếp bằng tiền mặt cho C.

Quá trình điều tra đã xác định hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Đậu Hùng C cụ thể như sau:

  1. Từ ngày 04/10/2022 đến ngày 11/01/2025, Đậu Hùng C cho anh Lê Ánh D1, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố T, phường T, thị xã N vay 02 gói vay, gồm:
    • - Gói vay thứ nhất: Ngày 04/10/2022, C cho anh D1 vay số tiền 20.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.800.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 11/01/2025 (thời điểm C ra đầu thú), anh D1 đã trả cho C 28 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 04/02/2025) với tổng số tiền 50.400.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 9.333.333 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 41.066.667 đồng. Đến ngày 07/02/2025, anh D1 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C.
    • - Gói vay thứ hai: Ngày 23/02/2024, C cho anh D1 vay số tiền 15.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.350.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 23/6/2024, anh D1 đã trả cho C 05 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 23/7/2024) với tổng số tiền 6.750.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 1.250.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 5.500.000 đồng. Đến ngày 23/7/2024, anh D1 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C.

    Tổng cộng 02 gói vay trên, C đã cho anh D1 vay số tiền 35.000.000 đồng; tổng số tiền lãi anh D1 đã trả cho C là 57.150.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 10.583.333 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 46.566.667 đồng. Đến nay, anh D1 đã thanh toán toàn bộ nợ gốc cho C (BL 123-128; 263-280).

  2. 2. Từ ngày 15/02/2023 đến 04/7/2024, C đã cho anh Cao Mạnh L2, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố S, phường N, thị xã N vay 03 gói vay, gồm:
    • - Gói vay thứ nhất: Ngày 15/02/2023, C cho anh L2 vay số tiền 15.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.350.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 15/12/2023, anh L2 đã trả cho C 11 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 15/01/2024) với tổng số tiền 14.850.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 2.750.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 12.100.000 đồng. Ngày 09/02/2025, anh L2 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C.
    • - Gói vay thứ hai: Ngày 09/5/2024, C cho anh L2 vay số tiền 15.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.350.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 25/6/2024, anh L2 đã trả cho C 02 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 09/7/2024) với tổng số tiền là 2.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 500.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 2.200.000 đồng. Cùng ngày 25/6/2024, anh L2 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C.
    • - Gói vay thứ ba: Ngày 04/7/2024, C sử dụng số tiền thu nợ gốc trên tiếp tục cho anh L2 vay với lãi suất thỏa thuận từ trước, C cắt lãi tháng đầu là 1.350.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 04/01/2025, anh L2 đã trả cho C 08 tháng tiền lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến hết tháng 02/2025) với tổng số tiền 10.800.000 đồng, trong đó, số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 1.750.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 9.050.000 đồng. Ngày 09/02/2025, anh L2 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C.

    Tổng cộng 03 gói vay trên, C đã cho L2 vay với tổng số tiền là 45.000.000 đồng, tuy nhiên C đã lấy tiền nợ gốc thu được của gói vay thứ hai để quay vòng cho vay gói vay thứ ba, nên số tiền thực tế C sử dụng để cho vay là 30.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi L2 đã trả cho C là 28.300.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 5.250.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 23.100.000 đồng (BL 146-148; 99-105; 241; 255-280).

  3. 3. Ngày 28/3/2023, C cho chị Hồ Thị L3, sinh năm 1969, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N vay số tiền 10.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 900.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 28/10/2024, chị L3 đã trả cho C 20 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 28/11/2024) với tổng số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 3.333.333 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 14.666.667 đồng. Đến nay chị L3 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C (BL 129-131; 253,254; 268-280).
  4. 4. Ngày 05/5/2023, C đã cho anh Hoàng Văn S, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N vay số tiền 10.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 900.000 đồng từ tiền gốc vay. Tổng số tiền lãi anh S phải trả cho C theo thỏa thuận là 18.900.000 đồng (tương ứng với 21 tháng lãi), trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 3.500.000 đồng, số tiền C sẽ thu lợi bất chính là 15.400.000 đồng. Đến ngày 11/01/2025 (thời điểm C ra đầu thú), anh S mới trả cho C 19 tháng tiền lãi với tổng số tiền 17.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 3.166.667 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 13.933.333 đồng (BL 117-122; 242; 265-280). Đến ngày 06/02/2025, anh S đã thanh toán cho C số tiền nợ gốc trên (BL 252).
  5. 5. Ngày 05/01/2024, C đã cho anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N vay số tiền 20.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.800.000 đồng từ tiền gốc. Đến ngày 10/7/2024, anh C1 đã trả cho C 07 tháng tiền lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 05/8/2024) với tổng số tiền 12.600.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 2.333.333 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 10.266.667 đồng.

    Sau thời điểm này, C và anh C1 thỏa thuận giảm mức lãi xuống 2.000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với mức lãi suất 72%/năm, dưới 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (BL 106-110; 144; 255-280).

  6. 6. Ngày 05/02/2024, C sử dụng số tiền thu nợ gốc của Cao Mạnh L2 trả vào ngày 15/01/2024 để cho anh Hồ Văn T1, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N vay số tiền 15.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu là 1.350.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 07/10/2024, anh T1 đã trả cho C 09 tháng lãi theo thỏa thuận (lãi tính đến ngày 05/11/2024) với tổng số tiền 12.150.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 2.250.000 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 9.900.000 đồng. Đến tháng 11/2024, anh T1 đã thanh toán số tiền nợ gốc trên cho C (BL 106-110; 255-280).
  7. 7. Ngày 08/02/2024, C cho anh Hồ Văn Q, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N vay số tiền 10.000.000 đồng, C cắt lãi tháng đầu 900.000 đồng từ tiền gốc vay. Đến ngày 11/01/2025 (thời điểm C ra đầu thú), tổng số tiền lãi anh Q phải trả cho C là 10.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 2.000.000 đồng, số tiền C sẽ thu lợi bất chính là 8.800.000 đồng. Tổng số tiền lãi C đã thu của anh Q là 9.900.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 1.833.333 đồng, số tiền C thu lợi bất chính là 8.066.667 đồng (BL 91-98; 145; 255-262; 268-280). Đến ngày 10/02/2025, anh Q đã thanh toán cho C số tiền nợ gốc trên.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2022 đến ngày 04/02/2025, Đậu Hùng C đã cho 07 cá nhân có danh tính, địa chỉ nêu trên vay 10 gói vay, tổng cộng 145.000.000 đồng với mức lãi suất 108%/năm, cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên quá trình cho vay, C có 02 lần sử dụng số tiền thu nợ gốc của khoản vay trước để quay vòng cho vay các khoản vay sau với tổng số tiền 30.000.000 đồng, nên số tiền thực tế C sử dụng để cho vay được xác định là 115.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà người vay phải trả cho C là 157.950.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 29.250.000 đồng, số tiền C sẽ thu lợi bất chính là 128.700.000 đồng. Tổng số tiền lãi người vay đã trả cho C là 155.250.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 28.750.000 đồng, số tiền C đã thu lợi bất chính là 126.500.000 đồng. Đến nay, những người vay trên đã trả toàn bộ số tiền gốc vay cho C. Toàn bộ số tiền gốc và lãi thu được C khai đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Ngày 11/01/2025, Đậu Hùng C biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú. Quá trình điều tra, C đã thành khẩn khai báo về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bản thân để thu lợi bất chính, đồng thời tự nguyện hoàn trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho những người vay (BL 246 - 252).

Quá trình điều tra, bị can C đã thành khẩn khai báo hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Đối với khoản vay 10.000.000 đồng C cho anh Nguyễn Văn C1 vay với lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày kể từ ngày 05/8/2024, tương ứng với lãi suất 72%/năm, dưới 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, nên C không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lần cho vay này.

Bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 18/3/2025 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố Đậu Hùng C về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của BLHS.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo nhận tội thống nhất với nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo. Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX;

  • - Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; điểm s, b, i khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS.
  • Xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 30 triệu xung công quỹ nhà nước.
  • - Về phần vật chứng: Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax.
  • - Về phần áp dụng các biện pháp tư pháp: Truy thu từ bị cáo số tiền 28.750.000 đồng tiền phát sinh do phạm tội mà có và tiếp tục truy thu số tiền 35.000.000 đồng đây là công cụ phạm tội để xung công quỹ nhà nước.
  • + Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 80 triệu theo biên lai số 0001332 ngày 24/3/2025 của Chi cục THADS thị xã N đây là công cụ bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
  • + Bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thống nhất với nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

    Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

    Căn cứ vào lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thừa nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2022 đến ngày 04/7/2025, Đậu Hùng C đã cho anh Lê Ánh D1, chị Hồ Thị L3, anh Hoàng Văn S, anh Hồ Văn T1, anh Hồ Văn Q, cùng trú tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; anh Cao Mạnh L2, trú tại phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và anh Nguyễn Văn C1, trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền với mức lãi suất 108%/năm và cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền C đã sử dụng cho vay được xác định là 115.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà người vay phải trả cho C là 157.950.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 29.250.000 đồng, số tiền C sẽ thu lợi bất chính là 128.700.000 đồng. Tổng số tiền lãi người vay đã trả cho C là 155.250.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 28.750.000 đồng, số tiền C đã thu lợi bất chính là 126.500.000 đồng. Đến nay, những người vay đã thanh toán hết số tiền nợ gốc cho C và C cũng đã hoàn trả lại toàn bộ số tiền lãi thu vượt quá mức quy định trong Bộ luật Dân sự cho những người vay.

    Đối với những người vay khác CQĐT đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được địa chỉ và chưa có tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc này nên không có cơ sở để mở rộng điều tra.

    Đối với chị Trần Thị P là vợ bị cáo, quá trình điều tra xác định chị P không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

    Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thống nhất với nội dung bản cáco trang mà VKS ND Thị xã N, Thanh Hóa đã truy tố bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định khoản 2 Điều 201 BLHS. VKSND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. [3]. Xét tính chất vụ án: Hiện nay trên địa bàn thị xã N tệ nạn cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ngày càng nhiều. Lợi dụng thời điểm những người vay cần tiền nên bị cáo đã cho vay với mức lãi suất cao gấp nhiều lần so với quy định của nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ hành vi dân sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích công dân được pháp luật bảo vệ do đó cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.
  4. [4]. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã ra đầu thú, thật thà, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, chủ động nộp lại một phần số tiền dùng làm công cụ phạm tội, chủ động trả lại số tiền thu lợi bất chính cho người vay nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Tuy bị cáo đã bị Công an quận H, TP . xử phạt vi phạm hành chính vào năm 2012, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định nên nghĩ chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

    Xét thấy mục đích phạm tội của bị cáo là vụ lợi nên xét thấy cần thiết phải áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS phạt bị cáo một khoản tiền như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.

  5. [5]. Về áp dụng các biện pháp tư pháp: anh Lê Ánh D1, chị Hồ Thị L3, anh Hoàng Văn S, anh Hồ Văn T1, anh Hồ Văn Q, anh Cao Mạnh L2 và anh Nguyễn Văn C1 đã trả lại số tiền vay gốc cho bị cáo, bị cáo cũng đã trả lại cho những người vay số tiền lãi vượt quá theo quy định của BLDS. Những người vay đều có đơn xác nhận điều này vì vậy HĐXX không xem xét.

    Đối với số tiền lãi bị cáo được thu theo quy định là 28.750.000 đồng được xác định là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu xung công quỹ nhà nước.

    Đối với số tiền 115.000.000 đồng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, những người vay đã trả lại cho bị cáo nên cần truy thu từ bị cáo để xung công. Tuy nhiên bị cáo đã chủ động nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 80 triệu theo biên lai thu tiền số 0001332 ngày 24/3/2025 của Chi cục THADS thị xã N, số tiền còn lại là 35 triệu cần tiếp tục truy thu để xung công quỹ nhà nước.

  6. [6]. Về vật chứng: Bị cáo sử dụng điện thoại Iphone 11promax để liên lạc và thực hiện hành vi phạm tội nên được xác định là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán xung công quỹ nhà nước.
  7. [5]. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí HSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào: Khoản 2, 3 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Đậu Hùng C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
  • - Xử phạt: Đậu Hùng C 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo cho UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa quản lý và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  • + Phạt bị cáo 30 triệu đồng xung công quỹ nhà nước
  • - Về áp dụng các biện pháp tư pháp:
  • + Truy thu từ bị cáo Đậu Hùng C số tiền 63.750.000 đồng để xung công quỹ nhà nước.
  • + Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 80 triệu đồng theo biên lai thu tiền số 0001332 ngày 24/3/2025 của Chi cục THADS thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám A2218, có số Imeil 1:352869111731743, số Imail 2: 352869111582468, kèm theo 01 sim ghi số 8984048000063500265. Hiện đang được nhập kho Chi cục THADS Thị xã N, Thanh Hóa theo phiếu nhập kho số NK2025/55, ngày 01/4/2025.
  • - Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
  • + Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST
  • - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt người có quyền lợi liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
  • Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND TX. Nghi Sơn;
  • - Công an TX. Nghi Sơn;
  • - THADS TX. Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HSST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 36/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/10/2022 đến ngày 04/7/2025, Đậu Hùng C đã cho anh Lê Ánh D1, chị Hồ Thị L3, anh Hoàng Văn S, anh Hồ Văn T1, anh Hồ Văn Q, cùng trú tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; anh Cao Mạnh L2, trú tại phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và anh Nguyễn Văn C1, trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền với mức lãi suất 108%/năm và cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền C đã sử dụng cho vay được xác định là 115.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà người vay phải trả cho C là 157.950.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 29.250.000 đồng, số tiền C sẽ thu lợi bất chính là 128.700.000 đồng. Tổng số tiền lãi người vay đã trả cho C là 155.250.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa C được thu theo quy định là 28.750.000 đồng, số tiền C đã thu lợi bất chính là 126.500.000 đồng. Đến nay, những người vay đã thanh toán hết số tiền nợ gốc cho C và C cũng đã hoàn trả lại toàn bộ số tiền lãi thu vượt quá mức quy định trong Bộ luật Dân sự cho những người vay.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger