Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày: 04 - 4 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Xuân Quyết
  • 2. Bà Phan Thị Bích

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Huynh – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện H và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn H, sinh ngày 30/7/1979 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
  2. Nơi cư trú: Tổ H, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình C, sinh năm 1956 và bà: Trần Thị T, sinh năm 1958; có vợ: Cao Thị L, sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2003.

    - Tiền án, tiền sự: Không;

    - Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ ngày 29/02/2008 của Công an huyện L, tỉnh Yên Bái xử phạt 500.000đ về hành vi đánh bạc (Đã chấp hành nộp phạt ngày 04/3/2008).

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T).

  3. Tô Quang H1, sinh ngày 25/7/1981 tại huyện L, tỉnh Yên Bái.
  4. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Quốc K và bà: Nguyễn Thị T1 (đều đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 92/QĐ-XPHC ngày 13/12/2024 của Công an huyện L, tỉnh Yên Bái xử phạt 2.500.000₫ về hành vi Trộm cắp tài sản.

    Nhân thân:

    • + Quyết định số 686/QĐ-UBND ngày 24/6/2011 của UBND huyện L, tỉnh Yên Bái, về việc đưa người vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động tại tỉnh Yên Bái với thời gian chữa bệnh là 24 tháng (Ngày 24/6/2013 đã chấp hành xong).
    • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145/QĐXPHC-ĐCSMT ngày 07/9/2021 của Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái xử phạt 1.000.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Đã chấp hành xong ngày 08/9/2021).

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, Tô Quang H1 một mình đi từ nhà đến nhà Lê Văn H với mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H1 gặp và mua của H với số tiền 200.000 đồng được 02 gói Heroine đều bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Sau đó H1 cất số Heroine vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của người không rõ tên, tuổi, địa chỉ đến khu vực thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Khi đến nơi H1 xuống xe vào bụi cây ven đường lấy một ít Heroine vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại Hợp gói lại như cũ và cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ ra đường Quốc lộ thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H phối hợp với trạm cảnh sát giao thông Công an huyện H phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 50 phút cùng ngày, thu giữ 02 gói Heroine đều bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng.

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại tổ H, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, thu giữ: 25 gói đều bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu đỏ bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra H khai nhận: Sáng ngày 15/12/2024, H một mình đi từ nhà đến khu vực nghĩa trang thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái. Khi đến nơi H gặp và được 01 người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cho sử dụng Heroine. Sau đó H mua của người đàn ông này 4.000.000 đồng được 27 gói Heroine bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc màu trắng và 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu đỏ, bên trong chứa Heroine. H cất số Heroine vừa mua được vào túi quần đang mặc và đi về nhà mục đích để bán cho các đối tượng nghiện. Khoảng 13 giờ cùng ngày H đang ở nhà thì H1 đến, tại đây H bán cho H1 02 gói Heroine bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H, lúc này H đã tự nguyện giao nộp số Heroine trên người chưa bán được cho đối tượng nào và số tiền 200.000 đồng.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Tô Quang H1, Lê Văn H ngày 15/12/2024. kết quả (+) dương tính.

Tại Kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Lê Văn H gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine; tổng khối lượng 2,986g (hai phẩy chín tám sáu gam).

Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Tô Quang H1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D; khối lượng 0,251g (không phẩy hai năm một gam).

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSHY, ngày 07/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tô Quang H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Văn H và Tô Quang H1 theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Tô Quang H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Quang H1 từ 01(một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 02 (Hai) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý
  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lê Văn H.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với các bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn H và Tô Quang H1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 13 giờ ngày 15/12/2024, tại tổ H, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, Lê Văn H có hành vi bán 02 gói Heroine cho Tô Quang H1 với số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra H còn có hành vi tàng trữ 2,986g (hai phẩy chín tám sáu gam) mục đích để bán cho các đối tượng nghiện.

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 15/12/2024, tại thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Tô Quang H1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,251g (không phẩy hai năm một gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Lê Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Tô Quang H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, bị cáo H đã bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; bị cáo Tô Quang H1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đã bị đưa vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động tại tỉnh Yên Bái để cai nghiện với thời gian chữa bệnh là 24 tháng. Ngoài ra bị cáo H1 còn có 1 tiền sự, bị Công an huyện L, tỉnh Yên Bái xử phạt 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, các bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Lê Văn H 2,986g (hai phẩy chín tám sáu gam) Heroine; thu giữ của bị cáo Tô Quang H1 0,251g (không phẩy hai năm một gam). Sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo Lê Văn H số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử thấy rằng số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán Heroin cho Lê Văn H vào ngày 15/12/2024 tại khu vực nghĩa trang thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn H và Tô Quang H1, Công an huyện H đã xử phạt vi phạm hành chính, hình thức: Phạt cảnh cáo tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC và 40/QĐ-XPHC ngày 18/02/2025.

Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Tô Quang H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Quang H1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/12/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 02 (Hai) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý (Tình trạng các vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Phòng G – Kho bạc nhà nước khu vực VII.
  4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tống Xuân Quyết – Phan Thị Bích

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý. Tô Quang H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger