|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/DS-ST
Ngày: 03-4-2025
V/v “tranh chấp hợp đồng góp hụi"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Tiến
- Bà Huỳnh Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984.
- Bị đơn: bà Thái Thị L, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1984. (có mặt)
Cùng địa chỉ: số C, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: số A, khu phố A, thị trấn Tiệm Tôm, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 12 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm ông Huỳnh Văn C – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà Thái Thị L trả số tiền hụi còn nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) nhưng tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà H trả số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), cụ thể:
Ngày 02/10/2020, bà Nguyễn Thị H có mở dây hụi 5.000.000 đồng, hụi có 21 phần, bà Thái Thị L tham gia 01 phần, hụi có lãi và có hoa hồng. Bà L hốt hụi đầu, bà H đã giao đủ tiền hụi cho bà L, bà L ký tên vào giấy biên nhận ngày 02/10/2020.
Ngày 08/6/2021, bà Nguyễn Thị H mở dây hụi 5.000.000 đồng, hụi có 21 phần, bà Thái Thị L tham gia 01 phần, hụi có lãi và có hoa hồng. Bà L hốt hụi đầu, bà H đã giao đủ tiền hụi cho bà L, bà L ký tên vào giấy nhận tiền ngày 08/6/2021.
Sau khi hốt hụi bà L đóng hụi chết không đầy đủ đối với 02 dây hụi, cả 02 dây hụi bà L còn nợ lại số tiền 50.000.000 đồng và tiền hụi cũ còn nợ lại 20.000.000 đồng, tổng cộng là 70.000.000 đồng. Do đó, bà H yêu cầu bà L có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần, không đồng ý cho trả dần.
Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Thái Thị L trình bày:
Bà thừa nhận có tham gia 02 dây hụi 5.000.000 đồng do bà H làm chủ, 01 dây mở ngày 02/10/2020 và 01 dây mở ngày 08/6/2021, cả 02 dây hụi đều có 21 phần, mỗi dây tham gia 01 phần, hụi có lãi và có hoa hồng, khi tham gia bà H giao cho bà một quyển sổ tay ghi hụi để khi bà đóng hụi thì bà H hoặc ông C sẽ ghi vào để theo dõi. Sau khi tham gia bà hốt đầu cả 2 dây hụi, bà H đã giao hụi cho bà đầy đủ, bà ký tên vào giấy nhận tiền hụi. Đối với dây hụi ngày 02/10/2020 đã mãn bà còn nợ lại 04 tháng là 20.000.000 đồng; dây hụi ngày 08/6/2021 cũng đã mãn bà còn nợ lại 06 tháng là 30.000.000 đồng và còn 01 dây hụi 5.000.000 đồng trước năm 2020 bà còn nợ lại 04 tháng là 20.000.000 đồng, tổng cộng bà còn nợ bà H số tiền hụi 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) và đồng ý trả số tiền còn nợ 70.000.000 đồng cho bà H, xin được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nhận thấy trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là chưa thực hiện nghiêm quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử; vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền hụi đã rút 130.000.000 đồng. Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, buộc bị đơn bà Thái Thị L có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn bà Thái Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Thái Thị L.
[2] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nội dung: Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Thái Thị L thừa nhận có tham gia 02 phần hụi 5.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi, đã hốt cả 02 phần hụi và nhận tiền hụi từ bà H nhưng không đóng lại hụi chết đầy đủ, hiện nay còn nợ bà H số tiền hụi 70.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền nợ 70.000.000 đồng cho bà H. Đây là sự thừa nhận của bị đơn nên nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ của bà L không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ, vì vậy không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét lời trình bày của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H được chấp nhận nên bị đơn bà L phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 227, 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 471, 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với số tiền hụi 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Buộc bị đơn bà Thái Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) buộc bà Thái Thị L phải chịu và có nghĩa vụ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0007240 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
