Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh

Ông Phạm Đức Mạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là điểm cầu trung tâm và Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh H là điểm cầu thành phần. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Cà Văn H, sinh năm 1981

Nơi sinh và nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 01/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn K (đã chết) và bà Cà Thị X; Vợ: Lường Thị B; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Hướng bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024, đến ngày 28/12/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn H: Bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Lường Thị B, sinh năm 1990

Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La

Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Ngô Văn T1, sinh năm 2000.

Anh Mai Tuấn A, sinh năm 2000.

Đều có địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cà Văn H, sinh năm 1981 ở Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, hiện thuê trọ tại khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroin. Hướng đến huyện V, tỉnh Hưng Yên làm thuê tự do từ cuối năm 2024.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, H một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu trắng đen, biển số 26C1 - 166.39 đi từ phòng trọ đến khu vực bãi đất trống đối diện cổng Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma tuý sử dụng. Tại đây H gặp 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Hướng thấy người này có biểu hiện nghiện ma tuý giống mình cho nên đã đi đến gần và hỏi nam thanh niên trên có bán ma tuý không thì nam thanh niên trả lời “có”. Sau đó, H bảo nam thanh niên bán cho 200.000 đồng ma tuý, loại Heroin thì nam thanh niên đồng ý. Sau khi nhận tiền, nam thanh niên này đã đưa cho H 01 túi nilon màu trắng, viền có mép bấm màu xanh, bên trong chứa chất kết tinh màu trắng dạng cục và bột là ma tuý, loại Heroin. Sau khi mua được ma tuý, H cất số ma tuý trên vào cốp xe mô tô của H và điều khiển xe đi về thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên để xin việc làm.

Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi H đang đi trên đường Q hướng Hải Phòng- Hà Nội đến đoạn đường thuộc địa phận thôn N, thị trấn N, huyện V thì bị Tổ công tác của Công an thị trấn N kiểm tra, phát hiện Hướng tàng trữ trái phép ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm:

  • - 01 xe mô tô Honda Blade, màu trắng đen, biển số 26C1 – 166.39, đã qua sử dụng.
  • - T2 tại cốp xe mô tô biển số 26C1- 166.39, 01 túi nilon màu trắng, miệng có mép bấm màu xanh, bên trong túi chứa chất kết tinh màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ghi ký hiệu M1).

Xét nghiệm mẫu nước tiểu thu của Cà Văn H cho kết quả dương tính với ma túy, loại Heroin.

Cùng ngày 25/12/2024, Công an thị trấn N phố hợp với Cơ quan điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại thông báo kết luận giám định sơ bộ số 788 ngày 25/12/2024 và Kết luận giám định số 788 ngày 28/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: “Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong kí hiệu M1, có tổng khối lượng là 0,404g (không phẩy bốn không bốn gam), là ma túy; loại: Heroine

Hoàn lại trong niêm phong ghi 788 bên trong có 0,393g ma túy, loại Heroin”.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Blade, màu trắng đen, biển số 26C1-166.39 là tài sản của H đã sử dụng vào mục đích phạm tội; 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định. Công an thị trấn N đã nhập kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định.

Đối với đối tượng H khai đã bán trái phép chất ma túy cho H vào ngày 25/12/2024 tại Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan điều tra đã có công văn trao đổi với Cơ quan điều tra thị xã T để giải quyết sau theo quy định.

Bị cáo Cà Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo xác định tàng trữ Heroin nhằm mục đích sử dụng.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKS, ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội và cho bị cáo xin lại xe vì là tài sản chung của vợ chồng bị cáo đi làm tích cóp mua được.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị B trình bày: Chị có quan hệ là vợ bị cáo H, việc bị cáo H sử dụng xe máy là tài sản chung của vợ chồng vào ngày 25/12/2024 chị không biết. Chị đề nghị xin lại xe để chị lấy phương tiện đi làm và đưa đón con đi học, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cà Văn H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 788/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H.

Tịch thu phát lại chiếc xe mô tô Honda Blade, màu trắng đen, biển số 26C1-166.39 là tài sản H dùng vào việc phạm tội, ½ số tiền phát mại thu được sẽ sung quỹ Nhà nước, ½ số tiền bán xe còn lại sẽ trả lại cho chị B.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm như sau: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thái độ ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng, trả lại ½ số tiền bán xe cho vợ bị cáo là chị B. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 25/12/2024, tại khu vực Quốc lộ E hướng Hải Phòng- Hà Nội thuộc địa phận thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cà Văn H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,404g ma túy, loại Heroin để sử dụng thì bị Công an thị trấn N bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng liên quan.

Hành vi tàng trữ 0,404g ma túy loại Heroin để sử dụng như nêu ở trên của Cà Văn H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các chất ma túy nói chung và H1 nói riêng là mặt hàng Nhà nước cấm mua bán lưu thông trên thị trường, nhưng do bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lời bất chính. Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe của con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh, kịp thời trước pháp cần thiết nhằm mục đích cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 788/KL-KTHS(MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu trắng đen, biển kiểm soát 26C1-166.39. Qua điều tra xác minh là tài sản chung hợp pháp của bị cáo và vợ là chị Lường Thị B. Chị B không biết bị cáo sử dụng xe mô tô để mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó sẽ tịch thu chiếc xe mô tô nêu trên cho phát mại; số tiền bán xe thu được sẽ: sung quỹ Nhà nước ½ giá trị xe và trả lại ½ giá trị chiếc xe cho chị B.

Đối với đối tượng H khai đã bán ma túy cho H ngày 25/12/2024 tại khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã xác minh nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V cũng đã có công văn đến Cơ quan CSĐT – Công an thị xã T để giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Cà Văn H 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 788/KL-KTHS (MT) của Phòng K1, Công an tỉnh H.

Tịch thu phát mại xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu trắng đen, biển kiểm soát 26C1-166.39 đã qua sử dụng mang tên Cà Văn H, sung quỹ Nhà nước ½ số tiền bán xe, ½ số tiền bán xe còn lại sẽ trả cho chị Lường Thị B.

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Cà Văn H.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger