Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/3/2025

Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Dũng;

Ông Nguyễn Văn Đoạt,

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Số A, tổ D, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số F tổ A, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2022, chị và anh Nguyễn Văn T tìm hiểu, yêu thương sau đó được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới để thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn và Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77, ngày 26/7/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại tổ A ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Đến cuối năm 2024, giữa chị và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, nên chị đã về nhà cha mẹ ruột tại tổ D, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang sinh sống và ly thân với anh T từ đó cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ, chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh T có một người con chung tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023. Hiện nay, con đang sinh sống cùng với anh T. Theo đơn khởi kiện chị yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi nào con đủ 18 tuổi. Nhưng tại phiên hoà giải, chị đồng ý giao con chung cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị D xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày tại phiên họp hòa giải như sau:

Anh thống nhất lời trình bày của chị D về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa anh chị là đúng. Nhưng đối với mâu thuẫn giữa vợ chồng không lớn. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, anh có ý kiến như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị D.
  • - Về quan hệ con chung: Anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023 cho đến khi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh và chị D không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh T;
  • Về quan hệ con chung: Chị đồng ý giao con chung tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023 cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và chị không phải cấp dưỡng nuôi con;
  • Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với anh T;
  • Về quan hệ con chung: Anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023 đến tuổi trưởng thành và anh không yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  • Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh và chị D không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị D xin được ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Văn T. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Nguyễn Văn T có chỗ ở hiện nay tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn T tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 26/7/2022. Như vậy, hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị D về việc xin ly hôn với anh T thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị D và anh T có phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, nên chị đã về nhà cha mẹ ruột tại tổ D, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang sinh sống và ly thân với anh T từ cuối năm 2024 cho đến nay. Còn anh T cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị D không lớn, nên anh không đồng ý ly hôn với chị D.

Tuy nhiên, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của chị D và anh T, anh chị đã ly thân gần bốn tháng nay, chị D không còn tình cảm, không muốn hàn gắn và không muốn sống chung với anh T, nên mối quan hệ này không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng. Vì vậy, anh chị không thể xây dựng được gia đình hạnh phúc. Đồng thời, anh T cũng xác định trong thời gian chị D và anh T sống ly thân với nhau, thì giữa chị D và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Do đó, HĐXX xét thấy mục đích hôn nhân của chị D và anh T không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D và cho chị D được ly hôn với anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị D và anh T có một người con chung tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023. Hiện nay, con chung đang sinh sống với anh T. Nên khi ly hôn, chị đồng ý giao con chung cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi tuổi trưởng thành, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Còn anh T cũng có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Do đó, HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của chị D và anh T: Giao cháu tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023 cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.

[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh T thống nhất anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Nguyễn Văn Thành Đ, sinh ngày 22/3/2023 cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Nguyễn Văn T nuôi con; chị Nguyễn Thị D được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn T xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009984 ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị D không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Bình Sơn,
  • Hòn Đất, Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D kiện Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger