|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 3 – 2025 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Công
- Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 662/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà TTU, sinh năm 1990; thường trú: 13/7 khu phố BPB, phường BC, thành phố TA, tỉnh BD, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông NTT, sinh năm 1989; thường trú: 13/7 khu phố BPB, phường BC, thành phố TA, tỉnh BD, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2024, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà TTU trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà TTU và ông NTT tự nguyện tìm hiểu nhau, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 26/3/2015. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông T không lo làm ăn để phát triển kinh tế gia đình, thường hay uống rượu bia về chửi bới, xúc phạm bà. Bà và ông T đã ly thân hơn từ tháng 6/2024 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà U xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông NTT
+ Về con chung: Có 02 con chung tên NTP, sinh ngày 07/11/2015 và NTHK, sinh ngày 28/4/2021. Bà U yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông NTT không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa chấp hành pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông NTT, sinh năm 1989; thường trú: 13/7 khu phố Bình Phước B, phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Quá trình tố tụng ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, bà U có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà U và ông T tự nguyện tìm hiểu chung sống, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 26/3/2015, do đó hôn nhân của bà U và ông T là hợp pháp.
Quá trình tố tụng: Nguyên đơn bà U trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, ông T không lo làm ăn để phát triển kinh tế gia đình, chửi bới xúc phạm bà, ông bà đã có thời gian ly thân, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Ông T đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có văn bản trình bày ý kiến xem như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng nhưng địa phương không rõ. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Ông bà đã có thời gian sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống, do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà U về việc ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 02 con chung NTP, sinh ngày 07/11/2015 và NTHK, sinh ngày 28/4/2021. Bà U yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con, ông T không có văn bản trình bày ý kiến và không tham gia tố tụng. Cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét 02 cháu NTP NTHK còn nhỏ, cần được sự quan tâm, chăm sóc giáo dục của người mẹ do đó Hội đồng xét xử giao con chung NTP, sinh ngày 07/11/2015 và NTHK, sinh ngày 28/4/2021 cho bà U được được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục, bà U không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà U không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà TTU đối với bị đơn ông NTT
- Về quan hệ hôn nhân: Bà TTU được ly hôn với ông NTT.
- Về con chung: Giao con NTP, sinh ngày 07/11/2015 và NTHK, sinh ngày 28/4/2021 cho bà Út được được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục, bà U không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà NTT phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002894 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhâm |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: U-T ly hôn, tranh chấp nuôi con
