|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/DS-PT Ngày 20 - 3 - 2025 V/v: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Bà Bùi Thị Đoan Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc: “V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1949, “có mặt”.
- Bị đơn, người có yêu cầu phản tố: Ông Trần Minh Q, sinh năm 1961, “có mặt”.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cụ Lưu Thị G, sinh năm 1937, (Mẹ ông Q), “vắng mặt”.
- - Anh Trần Văn M, sinh năm 1996, (Con ông Q), “vắng mặt”.
- Người đại diện theo ủy quyền của cụ G, anh M: Ông Trần Minh Q, (Văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 01 năm 2024).
- - Bà Nguyễn Thị K, (Vợ ông Q), sinh năm 1963, “có mặt”.
- - Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1980, (Con bà N), “vắng mặt”.
- - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983, (Con bà N), “vắng mặt”.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh H, chị H1 là bà Nguyễn Thị N, (Văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 7 năm 2022), “bà N có mặt”.
Các đương sự đều cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N - nguyên đơn.
Ông Trần Minh Q - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2021 và các lời khai tiếp theo, lời trình bày tại Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bà Nguyễn Thị N trình bày:
Năm 1984 vợ chồng bà (chồng bà là ông T - chết năm 2003) nhận chuyển nhượng đất nhà ông bà X - Mứng, mua trên giấy tờ và ranh giới, không đo đạc gì. Trên đất có 01 nhà cấp 4 giáp ranh với nhà cụ N1, cụ G (Là bố mẹ ông Q), một bên giáp nhà B -X. Ranh giới giữa nhà X - Mứng và nhà B - X không có tường bao loan, còn ranh giới giữa nhà X - Mứng với nhà cụ N1 cụ, G là công trình phụ và nhà cấp 4 của cụ N1, cụ G xây từ năm 1972 quay lưng và giáp đầu đốc công trình vào diện tích đất nhà bà.
Năm 2001 gia đình bà được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà do bà đứng tên có diện tích 148m² đất tại thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Năm 2012, bà làm công trình phụ và phòng tắm, sát cạnh với công trình phụ và nhà cấp 4 của cụ N1, cụ G; hai bức tường của hai gia đình đấu lưng và dựa vào nhau, hai bên không tranh chấp gì. Năm 2020 gia đình ông Q có làm xưởng và nói về ranh giới, vì bà kém mắt, con trai bà dại, bà nhờ em trai bà là ông Nguyễn Duy T1 nói chuyện với ông Q, để đổi cho nhà ông Q gia đình bà lấy phía trước mặt (So với mặt đường giao thông của kênh thủy lợi L) là chiều rộng là 10cm, phía sau gia đình đổi cho gia đình ông Q là 20cm; quá trình làm nhà xưởng ông Q đã không giữ lời hứa đã lấn sang diện tích gia đình bà về phía trước mặt, với chiều rộng khoảng hơn 20cm, chiều dài chạy dọc theo đất. Đến tháng 3 năm 2021 nhà bà cải tạo lại, làm gác xép bà muốn lợp giáp ranh, nhưng ông Q không cho làm giáp tường, còn nhận sang nhà bà hơn 50cm nữa về phía sau của thửa đất. Bà đã làm đơn ra UBND thị trấn T yêu cầu hòa giải nhưng không thành, do đó bà khởi kiện buộc gia đình ông Trần Minh Q phải trả phần diện tích đất lấn chiếm cho bà là 2.91 m² (Chiều rộng lấn chiếm khoảnh hơn 20 cm và chiều dài lấn chiếm là 14.58m). Ngày 20 tháng 8 năm 2024, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và xác định cụ thể, theo thực tế bà biết là gia đình ông Q đã lấn sang gia đình bà là 2,6m², trên phần đất lấn chiếm, gia đình ông Q đã xây dựng nhà xưởng xây cấp 4, tường gạch, mái tôn, vách là khung thép và tôn có diện tích đo đạc là 97m² và 01 nhà vệ sinh khép kín được xây dựng bằng bê tông, cốt thép có diện tích là 4,2m²; do đó bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Trần Minh Q phải trả lại cho gia đình bà diện tích đất 2,6m², ở thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42, tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B; đồng thời tháo dỡ các tài sản trên phần đất lấn chiếm để trả lại cho gia đình bà, đồng thời phân định ranh giới rõ ràng giữa hai bên gia đình để giải quyết triệt để, tránh tranh chấp về sau.
Về chi phí tố tụng trong việc thu thập chứng cứ xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong đơn yêu cầu phản tố ngày 08 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Minh Q trình bày:
Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà N với lý do: Nguồn gốc diện tích đất của gia đình ông đang sử dụng, có từ thời các cụ để lại, đứng tên bố ông là cụ Trần Văn N1, ở thửa đất số 528, tờ bản đồ số 42, có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 238m², tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; năm 2018 cụ N1 chết, khi chết không để lại di chúc, tài sản cụ N1 để lại cho ông là con trưởng và mẹ ông là cụ G (vợ cụ N1) cùng vợ con ông sử dụng; quá trình sử dụng đất thì từ năm 1972, bố mẹ ông làm nhà và công trình phụ, chiều dài là 15m; năm 1980 nhà ông làm thêm một gian nhà, cộng tất cả là 05 gian nhà tiếp giáp với diện tích đất đứng tên gia đình bà N. Do điều kiện vợ chồng ông đi làm ăn xa, gia đình bà N có diện tích đất giáp ranh, diện tích đất bà N không có trích lục bản đồ, có lấn chiếm đất của gia đình ông 1,5m²; năm 2020 ông xây công trình là nhà cấp 4 giáp với gia đình bà N, trước đây giữa gia đình ông với gia đình bà N có ranh giới là bức tường cũ của gia đình ông, gia đình có để chừa lại làm giọt gianh cho nước mưa chảy xuống, sau khi gia đình bà N xây dựng công trình, làm mái lán, khung mái dựng cột kẽm, gia đình ông làm nhà xây hết phần đất giáp ranh về phía trước mặt, để lại phía sau diện tích đất khoảng hơn 50cm tính từ chân móng đất gia đình ông, tổng diện tích đất của gia đình ông còn khoảng 1,5 m² giáp đất gia đình bà N, gia đình ông không lấn đất gia đình bà N như bà N trình bày mà bà N lấn đất nhà ông về phía sau của thửa đất 02 bên (so với chiều mặt đường của kênh thủy lợi L) nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Do gia đình bà N đã lấn chiếm vào diện tích đất của gia đình ông ở chiều phía sau của thửa đất, chạy dọc ra phía trước mặt với chiều rộng lấn chiếm là 55cm, với diện tích đất lấn chiếm là 04m², trên phần diện tích đất lấn chiếm gia đình bà N đã xây dựng 01 nhà vệ sinh khép kín diện tích sử dụng là 3.2m², 01 mái gác xép được ghép bằng khung thép, mái tôn, vách tôn trên phần đất lấn chiếm, có diện tích là 16m²; ông đưa ra yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình bà N phải trả lại cho gia đình ông diện tích đất là 04m², ở thửa đất số 528, tờ bản đồ số 42, tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; đồng thời dỡ bỏ tài sản trên diện tích đất lấn chiếm cũng như xác định rõ ranh giới của hai bên gia đình để tránh tranh chấp về sau.
Về chi phí tố tụng, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bà là vợ ông Q, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Q, đồng ý với quan điểm của bị đơn, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N; đồng thời cũng thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết dứt điểm, xác định rõ mốc giới giữa hai bên gia đình, tránh tranh chấp về sau; công trình mà bà N yêu cầu dỡ bỏ là tài sản của gia đình bà bao gồm vợ chồng bà, mẹ ông Q là cụ K và con bà là anh Trần Văn M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Lưu Thị G và anh Trần Văn M vắng mặt tại phiên tòa, đã có văn bản ủy quyền cho ông Trần Minh Q, nhất trí với quan điểm, yêu cầu khởi kiện của ông Q đã trình bày
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Bá H và chị Nguyễn Thị H1, đã có văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N cùng thống trình bày, nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Q.
Với nội dung vụ án như trên, Tại bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 166, 170, 179, 202 và Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 166 và Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc buộc gia đình ông Trần Minh Q phải trả lại diện tích đất 2,6 m², ở thửa đất số 528, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của hộ ông Trần Minh Q.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Minh Q về việc buộc gia đình bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích đất 04m², ở thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của gia đình bà Nguyễn Thị N.
- Ranh giới của hai bên gia đình bà Nguyễn Thị N và gia đình ông Trần Minh Q là từ điểm 3 đến điểm 7 chạy dọc theo bức tường của ngôi nhà xưởng của gia đình ông Trần Minh Q, theo sơ đồ đo vẽ ngày 20 tháng 8 năm 2024, (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01-10-2024 nguyên đơn và bị đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện và nọi dung đơn kháng cáo, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn ông Trần Minh Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn ông Trần Minh Q được làm trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, buộc bị đơn ông Trần Minh Q phải trả lại diện tích đất 2,6 m², ở thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của gia đình ông Trần Minh Q và xác định ranh giới.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tranh luận tại phiên tòa xác định: Thửa đất gia đình bà N đang sử dụng do vợ chồng bà mua đất nhà ông bà X - Mứng từ năm 1984, khi mua trên giấy tờ và ranh giới, không đo đạc gì. Trên đất có 01 nhà cấp 4 giáp ranh với nhà cụ N1, cụ G (Là bố mẹ ông Q), một bên giáp nhà B -X. Ranh giới giữa nhà X - Mứng và nhà B - X không có tường bao loan, còn ranh giới giữa nhà X - Mứng với nhà cụ N1 cụ, G là công trình phụ và nhà cấp 4 của cụ N1, cụ G xây từ năm 1972 quay lưng và giáp đầu đốc công trình vào diện tích đất nhà bà. Năm 2012 gia đình bà N đã xây dựng công trình phụ, nhà tắm sát cạnh ranh giới với gia đình ông Q, tiếp theo đến năm 2019, gia đình bà N dựng 01 gác xép mái tôn trụ cột tròn bằng sắt giáp ranh với nhà ông Q chạy dọc theo bức tường của công trình hộ ông Q (hiện nay vẫn còn) và tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11 tháng 5 năm 2023 và ngày 20 tháng 8 năm 2024, bà N khẳng định cột trụ này là mốc giới đúng của 02 nhà. Năm 2020, gia đình ông Q xây tường làm nhà xưởng, bà không có ý kiến gì.
Quá trình giải quyết, cấp sơ thẩm xác minh và xác định: Ngoài việc tranh chấp về mốc giới với gia đình ông Q, gia đình bà không tranh chấp với hộ giáp ranh nào khác. Đối chiếu với kết quả số liệu trên bản địa chính thì chiều rộng của chiều mặt đường phía trước mặt, kéo từ thửa đất 527, (hộ bà X, B) kéo sang giáp ranh đất cụ N1 (Hộ ông Q đang sử dụng số đo quản lý của nhà nước là 9,54m (bản đồ VN B); hiện nay gia đình bà N đang sử dụng chiều rộng này trên thực tế là 9,65m ( rộng hơn 11cm) nên hộ gia đình bà N không bị thiếu hay bị lấn chiếm ở chiều trước mặt như nội dung khởi kiện.
Căn cứ vào tài liệu ông Q, bà N cung cấp (Bức ảnh chụp tại thời điểm khi làm kênh thủy lợi Liễn S và trước thời điểm ông Q dỡ bỏ công trình cũ, làm lại xưởng mới), lời trình bày của các bên thì xác định nhà xưởng mới của gia đình ông Q có xây giáp ranh đất nhà bà N, xây giáp trụ cột nhà bà N đã làm năm 2019. Ông Q trình bày, ông đã xây đúng ranh giới đất giữa 2 nhà, đó là xây hết phần mái giọt gianh nhà cũ của cụ Đ đã được xây dựng từ năm 1972 và xây giáp trụ cột công trình nhà bà N. Quan điểm trình bày của ông Q phù hợp với quan điểm của địa phương: Nếu 02 nhà giáp nhau mà làm nhà hoặc công trình có mái thì ranh giới giữa 02 nhà thường được xác định từ phần mái giọt gianh trở xuống, như vậy theo sự trình bày của các bên và thực tế sử dụng thì các bên đã xây dựng đúng với mốc giới của gia đình. Ranh giới của gia đình bà N, ông Q đã được xác định từ năm 1972, theo quy định tại Điều 175 Bộ luật dân sự: “Ranh giới cũng được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.” nên nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn chiếm ranh giới diện tích đất 2,6m² yêu cầu phải lại và yêu cầu dỡ bỏ tài sản là không phù hợp, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Mặt khác, bà N khởi kiện cho rằng gia đình ông Q lấn chiếm đất nhưng không xác định rõ ranh giới đất giữa nhà mình và nhà ông Q, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bà N cũng không xác định được chiều rộng cửa thửa đất gia đình mình là bao nhiêu, lúc thì xác định ông Q lấn chiếm là 2,91m² (rộng 20cm, chiều dài 14,58m); khi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27 tháng 5 năm 2022 thì lại xác định ông Q lấn 2,7m² (rộng 19cm, chiều dài 14,44m). Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 11 tháng 5 năm 2023 thì lại xác định ông Q lấn 36cm đất ở phía trước nhà. Việc bà N xác định gia đình ông Q lấn chiếm 36 cm về phía trước nhà là căn cứ vào “Biên bản hội nghị giải quyết tranh tranh chấp đất đai ngày 24 tháng 6 năm 2021”; tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20 tháng 8 năm 2024, lại xác định gia đình ông Q lấn chiếm 2,6m² là không có căn cứ, không phù hợp như đã phân tích trên. Do đó, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà N đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Q phải đền bù cho bà 7 tấm xà và 03 tấm tôn. Yêu cầu này, quá trình sơ thẩm bà không yêu cầu nên không thuộc phạm vi xét xử cấp phúc thẩm, nếu bà có yêu cầu được xem xét giải quyết trong vụ án khác nếu có căn cứ.
- Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Minh Q không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích đất 04m², ở thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của gia đình bà Nguyễn Thị N.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Ranh giới hai nhà được xác định Từ năm 1972, gia đình ông Q (bố ông Q là cụ N1 đã xây dựng công trình giáp ranh với đất của gia đình bà X - Mứng, (diện tích đất của bà N ngày nay) phần tường hậu, đầu đốc công trình quay lưng lại và giáp với gia đình ông bà X - Mứng, là ranh giới tự nhiên với hai diện tích đất; năm 2012 gia đình bà N xây dựng công trình phụ, nhà tắm trên phần đất giáp ranh, năm 2019, nhà bà N dựng gác xép, lán mái tôn, trụ cột tròn bằng sắt trên phần đất giáp ranh với nhà ông Q; năm 2020, ông Q xây tường làm nhà xưởng, cũng giáp ranh với phần công trình của bà N, các bên không có ý kiến gì.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cấp sơ thẩm thu thập và những chứng cứ tài liệu do ông Q, bà N cung cấp, lời trình bày của các bên xác định: nhà xưởng mới của ông Q xây giáp ranh sang phía đất nhà bà N, xây giáp trụ cột nhà bà N đã làm năm 2019. Theo ông Q, ông đã xây đúng ranh giới đất giữa 2 nhà, đó là xây hết phần mái giọt gianh nhà cũ của ông Q đã được xây dựng từ năm 1972 và xây giáp trụ cột nhà bà N. Như vậy gia đình ông Q đã xây đúng mốc giới của gia đình mình có từ trước. Điều đó chứng tỏ gia đình bà N không lấn chiếm vào diện tích đất của gia đình ông Q như yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Ngoài ra, theo bản đồ địa chính thì kích thước chiều rộng thửa đất gia đình ông Q và hiện trạng hiện nay đang sử dụng theo thẩm định và theo sự chỉ dẫn của gia đình ông Q về phía sau thửa đất (Tính theo mặt kênh thuỷ lợi L) là không thiếu. Theo bản đồ địa chính thì chiều rộng của thửa đất hộ gia đình ông Q, kéo từ hộ ông Lưu Văn Đ kéo sang đất của gia đình bà N chỉ là 14,48m hiện trạng ông Q sử dụng là 14,85m (cao hơn là 0,37m). Quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân thị trấn T cũng đã cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm biên bản làm việc ngày 18 tháng 9 năm 2006 về việc xác định mốc giới trong việc tranh chấp giữa gia đình ông Trần Minh Q và gia đình ông Lưu Văn Đ. Tại biên bản này ông Trần Minh Q đã xác định chiều rộng về diện tích đất phía sau thửa đất, kéo từ điểm mốc của gia đình ông Đ kéo sang đến vị trí đất đang tranh chấp với gia đình bà Nguyễn Thị N thì chiều rộng của diện tích đất đứng tên cụ N1 là 14,47m; kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11 tháng 5 năm 2023 và ngày 20 tháng 8 năm 2024 thì chiều rộng của vị trí tranh chấp này của gia đình ông Q là 14,85m, (rộng hơn 0,38m); ông Q cho rằng do gia đình bà N không có trích lục bản đồ thửa đất, không có mốc giới đất là không đúng. Như vậy, không có đủ cơ sở để xác định diện tích đất của gia đình ông Q bị thiếu đất, yêu cầu phản tố của ông Q là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận và gia đình bà N không lấn chiếm đất của gia đình ông Q, như yêu cầu phản tố của ông Q; để đảm bảo trật tự, ổn định về ranh giới, vị trí đất, đảm bảo sự thống nhất quản lý về đất đai và công bằng cho các bên, cần giữ nguyên ranh giới như hiện trạng để đảm bảo sự ổn định ranh giới giữa 2 nhà. Do đó cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Minh Q là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp yêu cầu kháng cáo của ông Q.
- Về ranh giới của gia đình bà Nguyễn Thị N và gia đình ông Trần Minh Q cấp sơ thẩm xác định từ điểm 3 đến điểm 7 chạy dọc theo bức tường của ngôi nhà xưởng của gia đình ông Trần Minh Q, theo sơ đồ đo vẽ ngày 20 tháng 8 năm 2024 là phù hợp.
- Về chi phí tố tụng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, cụ thể: Bà Nguyễn Thị N phải chịu là 4.900.000₫ (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ số tiền trên; ông Trần Minh Q phải chịu chi phí tố tụng là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); xác nhận ông Trần Minh Q đã nộp đủ số tiền trên.
- Về án phí: Do nguyên đơn, bị đơn thuộc đối tượng người cao tuổi và có đề nghị miễn án phí nên theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bà N, ông Q thuộc trường hợp được miễn nộp án phí cho bà N, ông Q; bà N đã nộp tạm ứng án phí tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm lần thứ nhất nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh V là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ vào các Điều 166, 170, 179, 202 và Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 166 và Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc buộc gia đình ông Trần Minh Q phải trả lại diện tích đất 2,6 m², ở thửa đất số 528, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của hộ ông Trần Minh Q.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Minh Q về việc buộc gia đình bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích đất 04m², ở thửa đất số 526, tờ bản đồ số 42 tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và yêu cầu dỡ bỏ tài sản trên phần đất của gia đình bà Nguyễn Thị N.
- Ranh giới của hai bên gia đình bà Nguyễn Thị N và gia đình ông Trần Minh Q là từ điểm 3 đến điểm 7 chạy dọc theo bức tường của ngôi nhà xưởng của gia đình ông Trần Minh Q, theo sơ đồ đo vẽ ngày 20 tháng 8 năm 2024, (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N phải chịu là 4.900.000 đồng, (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ số tiền trên.
Ông Trần Minh Q phải chịu chi phí tố tụng là 4.500.000 đồng, (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) xác nhận ông Trần Minh Q đã nộp đủ số tiền trên tại phiếu thu số 28, ngày 08 tháng 8 năm 2024 và biên bản thanh toán, quyết toán chi phí tố tụng ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Toà án.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N; hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003609 ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông Trần Minh Q.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Xuân Trọng | Bùi Thị Đoan Trang | Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- - TAND huyện Bình Xuyên;
- - VKSND huyện Bình Xuyên
- - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
- - Các đương sự;
- - Lưu: HS, HCTP.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 36/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất
- Số bản án: 36/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất
