|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 18 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thái và bà Cù Thị Ngọc Thảo.
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 04/2025/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04A/TB-TA ngày 13/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ ngày 28/02/2025, đối với các bị cáo:
Hà Anh K (Kiệt X), sinh ngày 31/3/2004 tại An Giang. Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Hà Văn T và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HSST ngày 31/12/2021, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách kể từ ngày 30/4/2023. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã T (có mặt).
Nguyễn Duy T1 (T), sinh ngày 01/11/1990 tại An Giang. Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị Tuyết T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã T (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Văn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
Người làm chứng: Nguyễn Thị Tuyết T2 (có mặt); Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thị T4, Đoàn Quốc T5, Đoàn Trâm A, Nguyễn Thanh T6 và Nguyễn Đức H (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an thị xã T, kiểm tra phòng trọ số 12 nhà trọ "Hồ N" thuộc khu vực khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của các bị cáo Hà Anh K, Nguyễn Duy T1, 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ, bên trong có 03 bọc nilon trong suốt hàn kín, chứa tinh thể trắng và dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa gắn co thủy tinh, trong co thủy tỉnh còn chứa tinh thể trắng (nghi ma túy). Các bị cáo K, T1 cùng khai ma túy đá mua của người phụ nữ tên bà T7 (không rõ lai lịch), cất giấu để sử dụng và bán lại kiếm lời, chưa bán được thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình điều tra, còn xác định: Do cần tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, bị cáo K bàn bạc với bị cáo T1 mua ma túy đá đem về phân lẻ bán lại kiếm lời, bị cáo T1 đồng ý. Để thực hiện, ngày 18/9/2024, bị cáo K đến gặp người phụ nữ tên bà T7 mua 800.000 đồng ma túy đá, đưa cho bị cáo T1 phân lẻ thành nhiều bọc nilon để bán lại mỗi bọc giá từ 200.000 – 300.000 đồng. Khoảng 00 giờ ngày 19/9/2024, các bị cáo K, T1 và Đoàn Quốc T5 (bạn của bị cáo K) đến nhà trọ Hồng T8 thuê phòng số 12 cho T5 ở, phòng số 13 thì các bị cáo K, T1 ngủ qua đêm, bị cáo T1 tự lấy ra một ít ma túy sử dụng rồi ngủ, bị cáo K mang số ma túy đá còn lại qua phòng số 12 ngồi chơi cùng với T5. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thanh T6 (bạn của bị cáo K, đang thuê phòng số 06) cùng qua phòng số 12, T3 lấy số ma túy cần sa và bộ dụng cụ ra tổ chức cho T6, T5 cùng nhau sử dụng cần sa, còn bị cáo K ngồi riêng sử dụng ma túy đá và dùng mạng xã hội Facebook nhắn tin Messenger cho "Trần Quang V", "Phan Tuấn K1", "Nguyễn H", "Tran Long" (bạn của K1) để giới thiệu chào bán ma túy. Đến khoảng 06 giờ ngày 19/9/2024, bị cáo Thanh thức dậy qua phòng số 12 tiếp tục ngủ lại với bị cáo K1. Riêng T5, T3 qua phòng - số 13 ngủ, bị cáo T1 bỏ về. Sau đó, lực lượng công an đến kiểm tra, bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận giảm định số 1339/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,1483 gam. Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0563 gam. M3 gửi giám định là ma túy, loại cần sa, không xác định khối lượng do ở dạng vết.
Vật chứng thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ, bên trong có 03 bọc nilon trong suốt hàn kín, chứa tinh thể trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có gắn co thủy tỉnh chứa tỉnh thể trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có quấn băng keo vải màu xanh, gắn phễu bằng giấy bạc, trong phễu có chất màu đen; 01 bật lửa màu trắng xanh; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đồng, có ốp lưng màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, mặt lưng phía dưỡi bị vỡ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển số 67H1 - 898.49.
Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số 04/CT-VKSTC ngày 14/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố các bị cáo Hà Anh K, Nguyễn Duy T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo K, T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo K yêu cầu được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển số 67H1 - 898.49; bị cáo T1 yêu cầu được nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, mặt lưng phía dưỡi bị vỡ. Các vật chứng thu giữ khác đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại 01 chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển số 67H1 - 898.49 cho K.
Người làm chứng vắng mặt khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Anh K từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các chất ma túy, các đồ vật, tài sản khác thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đồng, có ốp lưng màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển số 67H1 - 898.49. Giao trả bị cáo T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, mặt lưng phía dưỡi bị vỡ.
Trong phần tranh luận, các bị cáo K, T1 không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng thu giữ của bị cáo K và bị cáo T1. Riêng đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển số 67H1 - 898.49 bị cáo K yêu cầu nhận lại. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Hà Anh K và Nguyễn Duy T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Các bị cáo Hà Anh K, Nguyễn Duy T1 cùng có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị phát hiện, bắt quả tang ngày 19/9/2024, tại nhà trọ H2 thuộc khu vực khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang các bị cáo Hà Anh K, Nguyễn Duy T1 cùng có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 1,2046 gam Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của các bị cáo K, D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 tháng đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là những người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính. Trước khi phạm tội bị cáo K là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản, điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Trong vụ án nay, bị cáo K là người chủ mưu, trực tiếp liên hệ mua, nhắn tin chào bán ma túy cho nhiều người; bị cáo T1 có vai trò giúp sức cho bị cáo K trong việc phân chia ma túy và nhiệm vụ đi giao bán. Vì vậy, các bị cáo K, T1 phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội theo tính chất, mức độ của mỗi người đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lợi bất chính, hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà các bị cáo K, T1 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo thuộc thành phần lao động. Riêng bị cáo Thanh mắc bệnh hiểm nghèo (HIV/AIDS), đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Đối với người có liên quan trong vụ án gồm: - Nguyễn Thị T4 (chủ nhà trọ H2) không biết Hà Anh K, Nguyễn Duy T1, Đoàn Quốc T5, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thanh T6 có hành vi sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy trong nhà trọ, không hưởng lợi, Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt hành chính về hành vi vi phạm quy định về phòng, chống kiểm soát ma túy là phù hợp.
- Hành vi chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý trong vụ án khác. Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thanh T6, Đoàn Quốc T5 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang được giám sát, giáo dục tại địa phương là có căn cứ.
- Người phụ nữ tên bà T7, người đàn ông (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị can K, không rõ lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[7] Về vật chứng:
- Đối với toàn bộ số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có gắn co thủy tỉnh chứa tỉnh thể trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có quấn băng keo vải màu xanh, gắn phễu bằng giấy bạc, trong phễu có chất màu đen; 01 bật lửa màu trắng xanh; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại. Các vật chứng nêu trên thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đồng, có ốp lưng màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát 67H1 - 898.49, đã qua sử dụng của bị cáo K, đây là vật chưng bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, mặt lưng phía dưỡi bị vỡ của bị cáo T1, không liên quan đến việc hành vi phạm tội của bị cáo T1. Xét giao trả bị cáo T1.
(Theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Hà Anh K (Kiệt X) và Nguyễn Duy T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hà A1 Kiệt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2024).
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2024).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có gắn co thủy tỉnh chứa tỉnh thể trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng nhựa có quấn băng keo vải màu xanh, gắn phễu bằng giấy bạc, trong phễu có chất màu đen; 01 bật lửa màu trắng xanh; 01 cây kéo kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao rọc giấy bằng kim loại.
- - Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng đồng, có ốp lưng màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát 67H1 - 898.49, đã qua sử dụng.
- - Giao trả bị cáo Nguyễn Duy T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, mặt lưng phía dưỡi bị vỡ.
(Đặc điểm tang vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu)
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hà Anh K và Nguyễn Duy T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Th và K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy
