|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 18-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Ngọc Lan
2. Bà Lương Thị Bảo Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 28-02-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Duy T (tên gọi khác: Không có), sinh năm 1987 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Nhà trọ số B đường N, khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968 và con bà Văn Thị Y, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ: Dương Thị H (đã chết); bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009 nhỏ nhất sinh năm 2011;
Nhân thân:
- - Năm 2004, có hành vi trộm cắp tài sản bị đưa đi giáo dục tại Trường G, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chấp hành xong năm 2006.
- - Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 100/2008/HS-ST. Ngày 29/08/2008 chấp hành xong án phạt tù.
- - Ngày 31/7/2014, bị Công an xã S, thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 12/11/2015, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến nay. Có mặt.
- - Bị hại: Anh Phạm Văn L, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- - Người làm chứng: Anh Trần Minh N, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố N, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Duy T là người không giấy tờ tùy thân, nơi ở rõ ràng. T đã có nhân thân bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” cùng nhiều lần bị xử phạt hành chính, nhưng chưa đóng phạt nay lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 24/11/2024, bị cáo T sau khi đi đám giỗ tại nhà người quen ở phường X, thành phố L, trên đường về T điều khiển xe mô tô màu hồng, không biển kiểm soát (số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMIG150FMG209743) đi trên các tuyến đường ở thành phố L và ở trên địa bàn xã X, huyện X tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày thì xe mô tô của T hết xăng ở đoạn đường bê tông thuộc tổ C, khu phố N, phường X, thành phố L, lúc này T để xe lại trong hẻm đường đất, sau đó đi bộ khoảng 50 mét về hướng Quốc lộ A thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh biển số: 60U1 - 0272 đang dựng bên lề đường và gắn sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi, nên T đã nẩy sinh ý định chiếm đoạt và leo lên xe, nổ máy điều khiển bỏ trốn. Chiếc xe mô tô Biển số: 60U1-0272 là tài sản của anh Phạm Văn L, sinh năm 2000, nơi cư trú, khu phố B, phường P, thành phố L, dựng trên lề đường rồi đi xuống suối để bắt cua gần đó. Sau đó khoảng 15 phút anh L quay lại lấy xe đi về thì phát hiện xe đã bị mất nên chạy về nhà lấy xe mô tô khác để đi tìm kiếm. Bị cáo T sau khi trộm được xe nổ máy điều khiển bỏ trốn, chạy đến đoạn đường xã B, huyện X thì dùng tay tự tháo biển số và vứt biển số đi. Sau đó T điều khiển xe mô tô quay lại gần vị trí lấy trộm xe thì gặp anh L điều khiển xe mô tô đuổi theo, áp sát, yêu cầu dừng xe lại để hỏi thì T tăng ga bỏ chạy, anh L tri hô “Cướp”. Bị cáo T bỏ chạy đến khu vực đường H thuộc địa bàn phường X, thành phố L thì bị bắt giữ. Sau đó, anh L đưa T cùng xe mô tô của mình đến Công an phường X trình báo sự việc. Công an phường X đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/HĐĐGTSTTTHS ngày 07 tháng 01 năm 2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L. Kết luận: 01(một) chiếc xe mô tô, gắn máy màu hồng, có số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMYG150FMG209743, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng, không biển kiểm soát (thời điểm ngày 24/11/2024), có giá trị: 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 87/HĐĐGTSTTTHS ngày 02 tháng 12 năm 2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L. Kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô gắn máy hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 60U1-0272 xe đã qua sử dụng (thời điểm ngày 24/11/2024) có giá trị là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
Thu giữ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 60U1-0272.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại là anh Phạm Văn L là chủ sở hữu hợp pháp.
Thu giữ 01 (một) chiếc xe mô tô màu hồng, không biển kiểm soát (số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMYG150FMG209743), là phương tiện bị cáo T sử dụng trong quá trình phạm tội. Hiện đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo đúng quy định pháp luật.
Về dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản xe mô tô Honda màu xanh biển kiểm soát số: 60U1-0272 thì bị hại L không có yêu cầu gì thêm và cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về vấn đề bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 44/CT-VKSLK ngày 26/02/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô màu hồng, không biển kiểm soát (số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMYG150FMG209743), là phương tiện bị cáo T sử dụng trong quá trình phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bị cáo không tham gia tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến gì. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận:
Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 24/11/2024, tại khu phố N, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, lợi dụng sơ hở của anh Phạm Văn L trong việc trông coi tài sản, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 60U1-0272 của anh L, trị giá 6.000.000đ.
Như vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó Cáo trạng số 44/CT-VKSLK ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
[3] Về tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử và nhiều lần bị xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[4] Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh biển số 60U1-0272. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bị hại là anh Phạm Văn L là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô màu hồng, không biển kiểm soát (số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMYG150FMG209743), là phương tiện bị cáo T sử dụng trong quá trình phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về dân sự: Người bị hại là anh Phạm Văn L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
[6] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2025.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô màu hồng, không biển kiểm soát (số khung: RNGKCG2NG71000743, số máy: VUMYG150FMG209743).
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Duy T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
Hoàng Thị Đào
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với việc Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là chưa phù hợp. Vì theo Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành hình phạt tù xong ngày 04/11/2019 nhưng bị cáo chưa chấp hành đối với số tiền bồi thường thiệt hại 12.800.000đ. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Điều này cũng phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại Công văn số 64/CV-TA ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, bị cáo T1 chưa bồi thường thiệt hại của bản án trước mà tiếp tục phạm tội là tái phạm,
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- + Đối với bị cáo T1: Theo Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, bị cáo T1 bị xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, lần phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- + Đối với bị cáo P: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[4] Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J8, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A94, màu đen, quá trình điều tra xác định các tài sản này là tài sản hợp pháp của bị hại, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bà Huỳnh Thị N1 là đúng quy định.
- - 01 xe mô tô hiệu Vespa, màu trắng, biển số 60B2-823.26, quá trình điều tra xác minh chị Huỳnh Thị Thúy P1, sinh năm 1999, cư trú tại ấp R, xã B, thành phố L là chủ sở hữu hợp pháp, chị P1 không biết việc T1 mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho chị P1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Vấn dân sự: Người bị hại là bà Huỳnh Thị N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với việc Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là chưa phù hợp. Vì theo Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành hình phạt tù xong ngày 04/11/2019 nhưng bị cáo chưa chấp hành đối với số tiền bồi thường thiệt hại 12.800.000đ. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Điều này cũng phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại Công văn số 64/CV-TA ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, bị cáo T1 chưa bồi thường thiệt hại của bản án trước mà tiếp tục phạm tội là tái phạm,
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẢM NHẤN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Duy Thanh bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản"
