TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:36/2025/DS-ST Ngày: 14/03/2025. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng; Bà Nguyễn Thị Ly.
- - Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1423/2024/TLST- DS ngày 9 tháng 12 năm 2024. Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Thị Mỹ L, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Văng mặt.
- 2.2. Bà Phạm Thị Huỳnh N, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và Tờ tự khai nguyên đơn trình bày: Do quen biết nên có cho ông T bà N có vay tiền số tiền 90.000.000 đồng, có làm giấy thỏa thuận xác nhận nợ, mục đích vay mượn để làm hồ sơ đát và hẹn trong thời gian 3 tháng sẽ trả lại; đến hẹn ông T bà N không trả số tiền trên mặc dù đã đòi nhiều lần. Nay yêu cầu ông T bà N trả số tiền 90.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 15/11/2024 cho đến khi xét xử.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T bà Phạm Thị Huỳnh N vắng mặt không có lý do và không gởi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết: đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay cho nguyên đơn là 90.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 15/11/2024 cho đến khi xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T bà N trả tiền nợ vay là 90.000.000 đồng. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy thỏa thuận xác nhận ngày 13/9/2024. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng phía ông T bà N vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó theo quy định Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì: chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý. Căn cứ vào nội dung của các biên nhận thì có đủ cơ sở để xác định ông T bà N có vay của bà L số tiền là 90.000.000 đồng.
2.1. Xét thấy, hợp đồng vay tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với Điều 463; 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông T bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T bà N trả số tiền 90.000.000₫ là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.
2.2. Đối với yêu cầu tính lãi: nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền vốn vay 90.000.000 đồng theo mức lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 15/11/2024 cho đến khi xét xử. Xét thấy, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 15/11/2024 cho đến khi xét xử là phù hợp Điều 468 Bộ luật dân sự và có lợi cho phía bị đơn nghĩ nên chấp nhận. Số lãi được tính như sau:
90.000.000 đồng x 10%/năm x 4 tháng 28 ngày = 3.600.000 đồng.
Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông T bà N có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền vốn 90.000.000 đồng và lãi 3.600.000 đồng. Tổng cộng 93.600.000 đồng.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26; 35; 39; 144; 147; 217; 227; 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Công nhận hợp đồng vay tài sản giữa ông Đỗ Thị Mỹ L và ông Nguyễn Thanh T, bà Phạm Thị Huỳnh N.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Thị Mỹ L.
Buộc ông Nguyễn Thanh T, bà Phạm Thị Huỳnh N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đỗ Thị Mỹ L số tiền vốn là 90.000.000 đồng và lãi 3.600.000 đồng. Tổng cộng 93.600.000 đồng.
Án phí DSST: Ông Nguyễn Thanh T, bà Phạm Thị Huỳnh N phải chịu là 4.680.000 đồng.
Bà Đỗ Thị Mỹ L không phải chịu án phí, hoàn lại số tiền tạm ứng đã nộp là 2.250.000 đồng theo biên lai thu số 0023780 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền
