TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 28/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Danh Cư
- Bà Lê Thị Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 575/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Lưu Hoàng T; sinh năm 195, tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: Không; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12dân tộc: H; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn L và bà Khưu Thu V (chết); chưa có vợ, con; tiền án: Không.
Tiền sự:
- - Ngày 19/5/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 19 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1. Ngày 26/9/2021, chấp hành xong quyết định.
- - Ngày 19/5/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 2. Ngày 04/01/2024, chấp hành xong quyết định.
Nhân thân:
- - Ngày 25/01/2019, Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án số 10/2019/HS-ST). Ngày 25/9/2019, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Lưu Ngọc D, sinh năm: 1992; hộ khẩu thường trú: G T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú: 172/4/2 Ấp E (Ấp G cũ), xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 02/5/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an Q tuần tra đến trước số E Xóm C, Phường A, Quận H phát hiện 01 người đàn ông tự khai tên Lưu Hoàng T đang điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-738.88 chạy ngược chiều nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện thu giữ trên tay trái của T đang cầm 02 gói nylon chứa chất bột (T khai nhận là Heroin của T mua về để sử dụng) nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở Công an P, Quận H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra.
Ngày 10/5/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết luận giám định số 5434/KL-KTHS, kết luận: Chất bột trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lưu Hoàng T, Nguyễn Thanh S và hình dấu Công an P, Quận H (Ký hiệu mẫu m). Qua giám định có khối lượng m = 0,9294 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Heroin.
Ngày 05/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 5006/CSĐT và ngày 27/11/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết luận giám định số 13219/KL-KTHS cho biết: 01 bộ “danh bản, chỉ bản” số 184, họ tên Lưu Hoàng T, sinh ngày 23/05/1995, lập ngày 08/05/2024; 01 bản sao y “danh bản, chỉ bản” số 314, họ tên Lưu Hoàng T, sinh năm: 2001, lập ngày 28/10/2018 và 01 bản sao y “danh bản, chỉ bản” số NX900, họ tên Lưu Hoàng T, sinh năm: 2001, lập ngày 28/02/2020 là dấu vân tay của cùng một người.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Lưu Hoàng T khai nhận: Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy H1, T một mình điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-738.88 đến khu vực Phường A, Quận H để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khu vực trên, T đi vào hẻm B B, Phường A, Quận H thì gặp một người đàn ông (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng Heroin. Người đàn ông đồng ý bán và kêu T đứng đợi. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông quay lại nhận tiền và đưa cho T 02 gói nylon chứa Heroin. Sau đó, T cầm 02 gói Heroin trên tay trái và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi T điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-738.88 đến trước số E Xóm C, Phường A, Quận H thì bị lực lượng Công an kiểm tra như sự việc trên. Số ma túy trên là của T dùng để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không sử dụng vào mục đích nào khác.
Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 5434(1672)/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Hoàng T và hình dấu Công an P, Quận H và các chữ ký Cán bộ điều tra Nguyễn Huy L1 và Giám định viên Huỳnh Thanh T2;
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số: 0904525340, số Serial: 353694/07/954226/5 là điện thoại cá nhân của T dùng để liên lạc hàng ngày, không dùng liên lạc mua ma túy;
- - 01 xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY 048350. Qua xác minh, xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY048350 do ông Huỳnh Thanh T1, địa chỉ tại: 172/4/2 Ấp E (Áp G cũ), xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên giấy đăng ký xe. Qua xác minh, Công an xã Đ, huyện H cho biết Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú tại 172/4/2 Ấp E (Áp G cũ), xã Đ, huyện H hiện không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. Chị Lưu Ngọc D (chị ruột của Lưu Hoàng T) khai nhận vào khoảng năm 2022 (không nhớ rõ ngày, tháng), chị D có mua xe trên của một người (không rõ lai lịch) tại Quận A (không rõ địa chỉ) với số tiền 7.000.000 đồng, không làm hợp đồng mua bán xe. Sau khi mua bán xe trên chị D là người quản lý sử dụng. Ngày 02/5/2024, T mượn xe trên đi công việc, chị D không biết việc T sử dụng xe trên để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo để truy tìm chủ xe mô tô biển số 59Y1-738.88 nhưng hiện chưa có ai đến làm việc.
Tại bản Cáo trạng số 14 /CT-VKS-Q8 ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lưu Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túytheo điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa ma túy; trả lại cho bị cáo 01(một) điện thoại di động hiệu N không liên quan đến hành vi phạm tội; tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY048350 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì xử lý theo quy định.
Chị Lưu Ngọc D (chị ruột của Lưu Hoàng T) khai nhận vào khoảng năm 2022 (không nhớ rõ ngày, tháng), chị D có mua 01 xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY 048350 của một người (không rõ lai lịch) tại Quận A (không rõ địa chỉ) với số tiền 7.000.000 đồng, không làm hợp đồng mua bán xe. Sau khi mua bán xe trên chị D là người quản lý sử dụng. Ngày 02/5/2024, T mượn xe trên đi công việc, chị D không biết việc T sử dụng xe trên để đi mua ma túy nên nay tại tòa, chị xin được nhận lại chiếc xe trên.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 02/5/2024, tại trước số E Xóm C, Phường A, Quận H, Lưu Hoàng T có hành vi cất giữ 0,9294 gam ma tuý thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lưu Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
[5] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[6] Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2020, 2022 bị Tòa án nhân dân Quận 12 và Tòa án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa hết thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo từng bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù không coi là án tích nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
[7] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng vụ án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 5434(1672)/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Hoàng T và hình dấu Công an P, Quận H, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, và là công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[9] 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số: 0904525340, số Serial: 353694/07/954226/5 là điện thoại cá nhân của T dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
[10] Đối với 01 xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY048350. Qua xác minh do ông Huỳnh Thanh T1 đứng tên giấy đăng ký xe. Công an xã Đ, huyện H cho biết Huỳnh Thanh T1, không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ nên không ghi được lời khai. Chị Lưu Ngọc D (chị ruột của Lưu Hoàng T) khai nhận vào khoảng năm 2022 (không nhớ rõ ngày, tháng), D có mua xe trên của một người (không rõ lai lịch) tại Quận A (không rõ địa chỉ) với số tiền 7.000.000 đồng, không làm hợp đồng mua bán xe. Do đó cần tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY048350 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tuyên trả cho chị Lưu Ngọc D là người đang trực tiếp quản lý sử dụng chiếc xe trên, nếu về sau có phát sinh tranh chấp thì các bên được quyền khởi kiện giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.
[11] Đối với nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo T, do không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lưu Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túyThời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 5434(1672)/24, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Hoàng T và hình dấu Công an P, Quận H và các chữ ký Cán bộ điều tra Nguyễn Huy L1 và Giám định viên Huỳnh Thanh T2.
Trả lại cho bị cáo:
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số: 0904525340, số S: 353694/07/954226/5.
Tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 59Y1-738.88, số máy: JA32E0048510, số khung: 3229EY048350 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì trả cho chị Lưu Ngọc D.
(Tất cả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/01/2025).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lưu Hoàng T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 02/5/2024, tại trước số E Xóm C, Phường A, Quận H, Lưu Hoàng T có hành vi cất giữ 0,9294 gam ma tuý thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
