Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân

Ông Phạm Công Gia

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Mai Xuân C, Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Sinh năm 2002, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Mai Xuân T, sinh năm 1979 và bà Trần Thị Thúy D, sinh năm 1985; Sống chung như vợ chồng với chị Lâm Nguyễn Khánh V, sinh năm 2004; Con: Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 08/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, Lâm Đồng.

  3. Chị Bùi Tố Q, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Chị Nguyễn Ái D1, sinh năm 1994. (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 30/6/2023, công an huyện T phối hợp với công an xã P phát hiện ông Nguyễn Thanh L sinh năm 1970, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, Lâm Đồng đang nhận từ nhân viên nhà xe V1 có trụ sở tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai 01 hộp giấy màu vàng có ghi dòng chữ “người gửi: Vũ ĐT: 0929.546.xxx, người nhận Tài Bin ĐT 0869.600.xxx” bên trong có 02 hộp nhựa hình trụ màu trắng có ghi dòng chữ “dầu hấp tinh chất trái olive” và “Dầu hấp hoa sen”, bên trong hộp nhựa hình trụ màu trắng ghi dòng chữ “Dầu hấp hoa sen” có 01 gói nilong màu trắng có kích thước 03cm x 05cm bên trong có 10 viên nén không rõ hình màu xám và 01 gói nilong màu trắng có kích thước 08cm x 05cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với ông Nguyễn Thành L1.

Quá trình điều tra làm rõ như sau:

Phan Hoàng A và Mai Xuân C đều ngụ tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là bạn bè quen biết với nhau và cùng sử dụng ma túy từ đầu năm 2023. Vào khoảng 10 giờ ngày 30/6/2023, trong khi A và C đi cắt sầu riêng tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì C nói với A sử dụng số điện thoại 869.600.143 của A đặt mua ma túy về sử dụng. Khi ma túy được vận chuyển về thì sẽ có người gọi điện cho A, lúc đó A nói Chung biết để cho người lên lấy thì A đồng ý. Khoảng 18 giờ cùng ngày, A, C, Tạ Quốc Đ sinh năm 2002 ngụ tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, “D2” (hiện chưa rõ lai lịch, là bạn A), “Văn Thiên” (hiện chưa rõ lai lịch) cùng nhau ngồi nhậu tại nhà A. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/6/2023, gói hàng chứa ma túy mà A và C đặt được vận chuyển về đến trụ sở nhà xe V1 tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Ái D1 là nhân viên nhà xe V1, gọi điện cho số 0869.600.143 của A và thông báo về việc có hàng gửi đã về đến nhà xe V1. A biết đơn hàng này là ma túy do C đặt mua nên nói cho C biết việc gói hàng chứa ma túy đã về đến nhà xe V1. Sau đó, C sử dụng số điện thoại 0968.244.xxx gọi cho Nguyễn Thanh L là người làm nghề chạy xe ôm nói xuống nhà xe Vân C1 nhận hàng là 01 gói mỹ phẩm rồi đưa về cho C. Ông L điều khiển xe mô tô biển số 49L1-145.48 đến nhà xe Vân Chính nhận hàng, khi ông L đến nhà xe Vân Chính thì gọi điện lại cho C và chuyển máy để C nói chuyện với chị Bùi Tố Q là nhân viên nhà xe để C xác nhận việc ông L đi nhận hàng cho C. Sau đó, chị Q mang gói hàng chứa ma túy ra giao cho ông L thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Sau khi Nguyễn Thanh L bị bắt giữ, C gọi điện lại cho ông L nhưng không liên lạc được, biết ông L đã bị công an bắt giữ nên ngay tối cùng ngày Mai Xuân Chung bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 08/10/2024, Mai Xuân C ra trình diện, làm việc tại Công an huyện T nhưng không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 hộp giấy màu vàng có ghi dòng chữ “người gửi: Vũ ĐT: 0929.546.xxx, người nhận Tài Bin ĐT 0869.600.xxx" bên trong có 02 hộp nhựa hình trụ màu trắng có ghi dòng chữ “dầu hấp tinh chất trái olive” và “Dầu hấp hoa sen”, bên trong hộp nhựa hình trụ màu trắng ghi dòng chữ “Dầu hấp hoa sen” có 01 gói nilong màu trắng có kích thước 03cm x 05cm bên trong có 10 viên nén không rõ hình màu xám và 01 gói nilong màu trắng có kích thước 08cm x 05cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen; 01 xe mô tô biển số 49L1-145.48.

Tại bản Kết luận giám định số 1406/KL-KTHS ngày 07/7/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 7,0561 gam, loại Ketamine. 10 viên nén màu xám (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 3,9688 gam, loại Methamphetamine và MDMA.”

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSTP-ĐN ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Mai Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Mai Xuân C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đã được xử lý tại Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đối với Phan Hoàng A.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra bị cáo Mai Xuân C không thừa nhận hành vi phạm tội của mình thông qua việc không thừa nhận bàn bạc với A và sử dụng số điện thoại của A để đặt mua ma túy, không thừa nhận thuê ông L đi lấy gói hàng chứa ma túy tại nhà xe V1. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Phan Hoàng A; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Người làm chứng; lịch sử liên lạc thoại và SMS số thuê bao của bị cáo và ông L là phù hợp với nhau và diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 30/6/2023, tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Mai Xuân C có hành vi tàng trữ trái phép đối với 7,0561 gam loại Ketamine và 3,9688 gam loại Methamphetamine và MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, thu giữ tang vật.

Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Mai Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy và đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 để tính tổng khối lượng của hai chất ma túy này như sau:

  • Tỷ lệ % về khối lượng của chất ma túy Ketamine so với mức tối thiểu quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 35,2805 % (7,0561 gam so với 20 gam);
  • Tỷ lệ % về khối lượng của chất ma túy MDMA so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 79,376 % (3,9688 gam so với 05 gam);

Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của 02 chất Ke tamin và MDMA là: 35,2805% + 79,376% = 114,6565%

Do tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của 02 chất Ke tamin và MDMA là: 114,6565% lớn hơn 100% nên căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 để tính tổng khối lượng của hai chất ma túy này như sau:

  • Tỷ lệ % về khối lượng của chất ma túy Ketamine so với mức tối thiểu quy định tại điểm e khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là 7,056 % (7,0561 gam so với 100 gam);
  • Tỷ lệ % về khối lượng của chất ma túy MDMA so với mức tối thiểu quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là 13,229 % (3,9688 gam so với 30 gam);

Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của 02 chất Ke tamin và MDMA là: 13,229 % + 7,056 % = 20,285%

Như vậy, tổng tỷ lệ % về khối lượng của chất ma túy dưới 100% nên tổng khối lượng của 02 chất ma túy Ketamin, MDMA mà bị cáo tàng trữ thuộc trường hợp định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định hình phạt: Để che giấu và thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã sử dụng điện thoại liên lạc trao đổi mua ma túy về sử dụng bằng hình thức gửi hàng hóa qua dịch vụ vận tải hành khách. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm và là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về Biện pháp tư pháp: Đã được xử lý tại Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đối với Phan Hoàng A.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Thành L1 làm nghề chạy xe ôm được bị cáo C thuê đi nhận gói hàng có chứa ma túy, chị Bùi Tố Q và chị Nguyễn Ái D1 là nhân viên giao nhận hàng của nhà xe V1. Tuy nhiên, ông L1, chị Q và chị D1 không biết bên trong gói hàng có chứa ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông L1, chị Q và chị D1 với vai trò đồng phạm là phù hợp.

Đối với thông tin người gửi ghi trên vỏ hộp có chứa ma túy là “người gửi Vũ số ĐT 0929.546.xxx” Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Phan Hoàng A đã được xét xử trong Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[9] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Mai Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Mai Xuân C 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Xuân C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Gia

Nguyễn Thị Xuân

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 30/6/2023, tại ấp Ph, xã Ph, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Mai Xuân Ch có hành vi tàng trữ trái phép đối với 7,0561 gam loại Ketamine và 3,9688 gam loại Methamphetamine và MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện Tân Phú phát hiện, thu giữ tang vật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger