Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/02/2025

V/v không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Đức;
  • 2/ Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 354/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2024 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/12/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Thảo P, sinh năm 1997 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số E, tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0964.737.xxx

  3. Bị đơn: Chị Hồ Trúc H, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0972.521.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Thảo P trình bày: Anh Trần Thảo P với chị Hồ Trúc H chung sống với nhau từ năm 2023, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 4/2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp thường xuyên cự cãi, chị H đã từng nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn nhưng đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn, sau đó mặc dù anh P đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh P yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hồ Trúc H. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Hồ Trúc H đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để chị thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng chị Hồ Trúc H vẫn vắng mặt không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến của chị Hồ Trúc H.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh P, chị H tại biên bản lấy lời khai ngày 30/12/2024 của người làm chứng chị Trần Thị Thúy D thể hiện: P, H có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn do chưa kịp đi đăng ký kết hôn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Sau khi cưới thì vợ chồng P, H chung sống ở nhà cha mẹ chồng. Thời gian đầu P, H chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 4/2024, sau vài tháng chung sống thì vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, gia đình hai bên cũng không thuận, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. H cũng đã từng một lần đưa đơn ly hôn P tại Tòa án nhưng sau khi P khuyên can thì H đã rút đơn. Sau đó, dù P đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng P, H ngày càng phai nhạt và không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã không sống chung từ tháng 4/2024, trong thời gian ly thân vợ chồng đã không còn quan tâm nhau.

Tại phiên tòa: Anh Trần Thảo P có mặt; bị đơn chị Hồ Trúc H vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Thảo P và chị Hồ Trúc H. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét. Về án phí: Anh Trần Thảo P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Hồ Trúc H không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Thảo P khởi kiện ly hôn đối với chị Hồ Trúc H, tuy nhiên anh P trình bày vợ chồng chung sống không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Hồ Trúc H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, chị Hồ Trúc H vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ, lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh tình trạng hôn nhân có căn cứ xác định anh P và chị H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2023 có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống như vợ chồng anh P và chị H phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp thường xuyên cự cãi, mặc dù anh P đã cố gắng duy trì việc chung sống nhưng không đạt kết quả thể hiện bằng việc chị H đã từng một lần đưa đơn xin ly hôn với anh P tại Tòa án và anh chị đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay. Xét thấy, anh P và chị H là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật đã chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, quan hệ của anh P và chị H không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tinh thần hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2020/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P mà giải quyết không công nhận anh P và chị H là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Không có.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh P trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố không công nhận anh Trần Thảo P và chị Hồ Trúc H là vợ chồng.
  2. Về quan hệ con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Thảo P trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Thảo P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0011570 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh P đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Hồ Trúc H không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Thoại Giang;
  • - UBND xã Vọng Đông;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger