Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 18-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm A, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, đã chết và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966; bị cáo có 02 anh em ruột, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995; bị cáo có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1992, có 01 con ruột, sinh năm 2017; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án số 40/2019/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2021.

Ngày 13/01/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 22/2023/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 07/12/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Tuấn K, sinh năm 2002; địa chỉ: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hoài H1, sinh năm 1998, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/11/2024, do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Để thực hiện ý định trên, vào khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy 01 bộ dụng cụ phá khóa xe (gồm 01 đoạn sắt lục giác và 01 cờ lê mở khóa số 08 dạng điếu) được cất giấu ở phòng trọ và bỏ vào túi quần bên phải sau đó đi đến khu vực khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đi đến phía trước nhà trọ, địa chỉ: Số I, đường số C, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy tại hành lang nhà trọ trên có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 68N1-255.54 của anh Trần Tuấn K đang đỗ, không có người trông coi. T đi đến gần xe mô tô trên và sử dụng bộ dụng cụ phá khóa xe. Sau đó, T bỏ bộ dụng cụ vào cốp xe và đẩy xe mô tô ra phía trước nhà trọ. Do không khởi động được động cơ xe mô tô, T đẩy xe đi từ nhà trọ trên đến phía trước nhà không số, đường C, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương được khoảng 100 mét thì gặp Tổ tuần tra của Công an phường T, thành phố D. Thấy T có dấu hiệu nghi vấn nên lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện ổ khóa xe mô tô có dấu hiệu bị cạy phá, đồng thời T không cung cấp được các loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô nên mời T về trụ sở Công an phường để làm việc. Tại cơ quan Công an, Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số 203 ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 68N1-255.54 trị giá 14.500.000₫ (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 61/CT-VKSDA-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 68N1-255.54 do ông Trần Văn T1 (bố của bị hại K) đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, xác định ông T1 cho anh K mượn để làm phương tiện đi lại. Xét thấy đây là tài sản của ông T1 nên ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng số 6593 trả lại xe mô tô trên cho ông T1.
  • - 01 đoạn sắt lục giác và 01 cờ lê mở khóa số 08 dạng điếu là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại K không yêu cầu bị cáo T bồi thường.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng. Lời nói sau cùng bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 23 giờ ngày 02/11/2024, tại hành lang nhà trọ số I, đường số C, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Hoàng Văn T đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 68N1-255.54 của anh Trần Tuấn K trị giá là 14.500.000 đồng. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số: 61/CT-VKSDA – HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện bị cáo từng bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu chưa được xóa án tích.

[7] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây tác hại cho xã hội, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, biển số 68N1-255.54 do ông Trần Văn T1 (bố của bị hại K) đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, xác định ông T1 cho anh K mượn để làm phương tiện đi lại. Xét thấy đây là tài sản của ông T1 nên ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng số 6593 trả lại xe mô tô trên cho ông T1 là đúng quy định.
  • - 01 đoạn sắt lục giác và 01 cờ lê mở khóa số 08 dạng điếu là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

[9] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, mức hình phạt là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/11/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn sắt lục giác dài 04 cm, đường kính 8mm được mài nhọn phần đầu và 01 cờ lê mở khóa số 08 dạng điếu.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (03);
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - THA hình sự (04);
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Tùng bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger