Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 02 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuần, Ông Võ Văn Tốt

ảng Phong - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thống - Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 50/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Quang V – sinh năm: 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Số A đường số B, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Nhà không số (B), ấp A, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên trang trí nội thất; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Anh Q và bà Hoàng Thị M; có vợ: Lê Thị Minh H và có 05 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm: 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 174/2019/QĐ-TA, ngày 19/6/2019 của TAND huyện Hóc Môn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 14/4/2020.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2024 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ngân hàng thương mại cổ phần K; trụ sở: 06 Q, phường T, Quận H, Tp.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông La Thành N - Chuyên viên an ninh cơ sở - Ngân hàng TMCP K (Văn bản uỷ quyền số 171/2024/UQ-TCB ngày 06/9/2024); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 26 phút ngày 31/8/2024, Bùi Quang V đến trụ máy ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần K (viết tắt Ngân hàng T) đặt tại địa chỉ số A đường N, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để rút tiền. Sau khi đưa thẻ ATM vào máy để rút tiền nhưng do Bùi Quang V thực hiện thao tác sai nhiều lần nên không rút được tiền và máy cũng không trả lại thẻ ATM. Bực tức, V đã dùng tay trái đập 02 cái vào bộ phận nhận thẻ của máy ATM và dùng tay phải bẻ, kéo lôi bộ phận này ra làm hư hỏng mặt nạ khoang kỹ thuật máy ATM 133042, số Serial No 56HG802213. Sau đó, V báo với bảo vệ Ngân hàng T về việc V không rút được tiền và máy giữ thẻ ATM của V, bảo vệ Ngân hàng H1 liên hệ trực tiếp với Ngân hàng T nhưng Ngân hàng T không làm việc vào chiều thứ 7 nên V bỏ về.

Đến ngày 07/9/2024, ông La Thành N đại diện của Ngân hàng T đến Công an phường T, Quận A trình báo trụ máy ATM của Ngân hàng T tại địa chỉ số A đường N, khu phố G, phường T, Quận A bị đập phá hư hỏng. Sau đó, Công an phường T, Quận A đã mời V làm việc.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần Jean ống dài màu xanh.
  • - 01 xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, màu đỏ, biển số 59D2-047.70, số máy JF56E0024150, số khung RLHJF5602EY013512 thu giữ của Bùi Quang V.
  • - 01 USB ghi nhận hình ảnh Bùi Quang V thực hiện hành vi đập phá máy ATM của Ngân hàng T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A đã kết luận: Chi phí thay thế và chi phí lắp đặt đối với trụ máy ATM của Ngân hàng T, số S 56HG802213 bị hư hỏng 01 mặt nạ khoang kỹ thuật của máy là 41.430.000đồng (Bút lục 66-72).

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Bùi Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại trình bày như nội dung bị cáo đã khai nhận. Về trách nhiệm hình sự, đại diện bị hại đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho Ngân hàng T số tiền 41.430.000 đồng là chi phí sửa chữa, khắc phục tài sản do bị cáo làm hư hỏng.

  • * Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSQ12 ngày 22/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Bùi Quang V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • * Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Quang V và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho Ngân hàng T số tiền 41.430.000đồng.
  • - Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần Jean ống dài màu xanh thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, màu đỏ, biển số 59D2-047.70, số máy JF56E0024150, số khung RLHJF5602EY013512 thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo không tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 13 giờ 26 phút ngày 31/8/2024 tại trụ máy ATM của Ngân hàng T tại địa chỉ số A đường N, khu phố G, phường T, Quận A, Bùi Quang V đã có hành vi dùng tay trái đập 02 cái vào bộ phận nhận thẻ và dùng tay phải bẻ, kéo

lôi bộ phận này ra làm hư hỏng mặt nạ khoang kỹ thuật máy ATM nói trên, chi phí sữa chữa, khắc phục tài sản là 41.430.000đồng.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Bùi Quang V đã phạm vào tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý lo ngại trong nhân dân nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng nhân thân xấu; chi phí sửa chữa, khắc phục lại tài sản là 41.430.000đồng nên cần xử phạt bị cáo ở mức cao nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chi phí sửa chữa, khắc phục lại tài sản là 41.430.000đồng nên cần buộc bị cáo bồi thường cho Ngân hàng T số tiền nói trên.

[7] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 USB ghi nhận hình ảnh Bùi Quang V thực hiện hành vi đập phá máy ATM đã được đính kèm trong hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, màu đỏ, biển số 59D2-047.70, số máy JF56E0024150, RLHJF5602EY013512 do Bùi Quang V đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với: 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 quần Jean ống dài màu xanh thu giữ của bị cáo có giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Bùi Quang V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự
  • Buộc bị cáo Bùi Quang V phải bồi thường cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 41.430.000đồng (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi ngàn đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 quần Jean ống dài màu xanh thu giữ của bị cáo Bùi Quang V.
  • + Trả lại cho bị cáo Bùi Quang V 01 xe môtô nhãn hiệu Honda PCX, màu đỏ, biển số 59D2-047.70, số máy JF56E0024150, số khung RLHJF5602EY013512 do Bùi Quang V đứng tên chủ sở hữu.
  • (Theo quyết định chuyển vật chứng số 49/QĐ-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Quang V phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.071.500đồng (Hai triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng là 2.271.500đồng (Hai triệu hai trăm bảy mươi mốt ngàn năm trăm đồng).

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Tp.HCM (1b);
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM (1b);
  • - Phòng PC53 Công an Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Công an Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THA dân sự Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi cư trú của bị cáo (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (5b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Thuỳ Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quang V - “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger