|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 17-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Huy Vượng.
2. Ông Nguyễn Nam Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn H, sinh ngày 08/01/2001 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn S, sinh năm 1973 và con bà: Lường Thị C, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không.
- Tiền sự: Có 01 tiền sự, cụ thể: Tại quyết định số 586/QĐ-UBND ngày 15/8/2024, Hoàng Văn H bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng, hiện chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Về nhân thân:
+ Ngày 07/2/2023 Hoàng Văn H bị Công an huyện T quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định số 25/QĐ-XPHC với số tiền phạt là 2.500.000 đồng, Hoàng Văn H chưa thi hành quyết định này, đến nay đã hết thời hiệu thi hành.
+ Tại quyết định số 403/QĐ-UBND ngày 07/6/2024 và quyết định số 548/QĐ-UBND ngày 02/8/2024, Hoàng Văn H bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T đều áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn quản lý là 01 năm.
- Ngày 19/9/2024, bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, đến ngày 28/9/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1973 và bà Lường Thị C, sinh năm 1975, đều trú tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (đều có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn Q, sinh năm 1964. Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người làm chứng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Trú tại: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn H sống chung nhà với bố mẹ đẻ là ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Khoảng 06 giờ ngày 18/9/2024, H ngủ dậy rồi một mình ra phòng khách mở ti vi xem trong khi những người trong gia đình vẫn đang ngủ. Khi xem ti vi được khoảng 05 phút thì H nảy sinh ý định lấy trộm chiếc ti vi, nhãn hiệu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T của ông S và bà C, mục đích mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngay sau đó H đi đến vị trí chiếc tủ đang đặt chiếc ti vi rồi rút các thiết bị và nguồn điện ra. Sau đó H đi bộ sang nhà Nguyễn Văn T trú cùng bản gặp T và nói dối là H tự mua được 01 chiếc ti vi đang để ở nhà, muốn nhờ T cùng mang chiếc ti vi này ra thị trấn T để cầm cố nên T đồng ý. Sau đó T điều khiển xe mô tô của T chở H cùng đi về nhà H rồi T đứng chờ bên ngoài còn H đi vào nhà bê chiếc ti vi ra ngoài, sau đó T chở H bê chiếc ti vi đi tìm nơi cầm cố. Khi đang đi trên đường, H hỏi và được T cho biết Bùi Trung K, sinh năm 1988 trú tại tổ dân phố B, thị trấn T có nhận cầm cố tài sản nên H và T cùng đi đến nhà K. Khi đến nhà K, H bảo T đi vào nhà hỏi để được cầm cố chiếc ti vi với số tiền 1.000.000 đồng, T đồng ý. Ngay sau đó T đi vào nhà K được vài phút rồi quay lại thông báo với H là K không có ở nhà mà chỉ có ông Bùi Văn Q là bố đẻ anh K đang ở nhà. Thấy vậy H bê chiếc ti vi và cùng T đi vào nhà gặp ông Q. Tại đây ông Q nói muốn mua chiếc ti vi nhưng H không đồng ý bán và nói chỉ muốn cầm cố với số tiền 1.000.000 đồng. Do H quên không mang theo điều khiển nên không mở được ti vi để kiểm tra. Ngay sau đó H cùng T để lại chiếc ti vi rồi cùng đi về nhà H lấy chiếc điều khiển ti vi mang đến nhà ông Q. Khi đã mở được ti vi để kiểm tra ông Q đã đồng ý cầm cố chiếc ti vi với số tiền 1.000.000 đồng. Quá trình trao đổi cầm cố ti vi, ông Q không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có do H nói dối là ti vi của H tự mua được. Sau khi có tiền cầm cố H và Q cùng đi về. Khi đi đến bản C, xã T H đưa cho T 50.000 đồng rồi T đi đâu không rõ, còn H thì về nhà sau đó tiêu xài hết số tiền này.
Sau khi phát hiện bị mất ti vi Hoàng Văn S là bố đẻ H đã trình báo công an xã T, huyện T điều tra, xử lý. Ngày 19/9/2024 Hoàng Văn H đã đến công an xã T, huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.
Quá trình điều tra xác định: Chiếc ti vi nhãn hiêu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T là tài sản riêng của ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C, là bố mẹ đẻ Hoàng Văn H. Ông S và bà C đã tự bỏ tiền ra mua chiếc ti vi này bằng tiền riêng của ông bà do lao động chính đáng mà có tại cửa hàng Đ vào năm 2020 với giá 9.200.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS, ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 chiếc ti vi nhãn hiêu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T, sản xuất tháng 12/2017 có trị giá 2.700.000 đồng.
Cáo trạng số 04/CT-VKS-TU ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố Hoàng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản", miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T, đã qua sử dụng cùng 01 chiếc điều khiển ti vi.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hoàng Văn H hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng cho ông Bùi Văn Q.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
Bị hại ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông Bùi Văn Q yêu cầu Hoàng Văn H hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng mà ông Q đã bỏ ra để cầm cố chiếc ti vi.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, HĐXX đủ cơ sở để kết luận:
Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, khoảng hơn 06 giờ ngày 18/9/2024 tại nhà ở của vợ chồng ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T có trị giá 2.700.000 đồng của ông S và bà C rồi mang đi cầm cố cho Bùi Văn Q được số tiền 1.000.000 đồng sau đó mang đi tiêu xài cá nhân hết.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn H là đối tượng nghiện ma tuý và có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2023; năm 2024 bị cáo H bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do vậy quá trình lượng hình Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 1.000.000 đồng ông Bùi Văn Q đã bỏ ra để nhận cầm cố chiếc tivi cho bị cáo H, xét thấy khi nhận cầm cố tài sản, ông Q không biết chiếc tivi trên do bị cáo trộm cắp mà có, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của ông Q buộc bị cáo H phải hoàn trả cho ông Q số tiền 1.000.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T, đã qua sử dụng cùng 01 chiếc điều khiển ti vi là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C nên cần xem xét trả lại cho ông S và bà C.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:
Đối với Nguyễn Văn T là người cùng Hoàng Văn H mang chiếc ti vi trộm cắp đi cầm cố, quá trình điều tra xác định T không biết chiếc ti vi này do H trộm cắp mà có, vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Nguyễn Văn T là đúng quy định.
Đối với Bùi Văn Q là người đã nhận cầm cố chiếc ti vi do Hoàng Văn H mang đến. Quá trình điều tra xác định Q không biết chiếc ti vi này do trộm cắp mà có vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Bùi Văn Q là đúng quy định. Tuy nhiên cơ sở của Q không được cấp phép cầm cố tài sản do đó Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Q về hành vi cầm cố trái phép tài sản là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG, màn hình 43 inch, số loại 43UJ632T, đã qua sử dụng cùng 01 chiếc điều khiển ti vi. (Hiện số vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đang tạm giao cho ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C quản lý, kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật ông Hoàng Văn S và bà Lường Thị C được quyền quản lý, sử dụng tài sản nêu trên).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải hoàn trả cho ông Bùi Văn Q số tiền 1.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp tài sản theo k1 Điều 173 BLHS
