|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HN-ST Ngày: 07/02/2025 V/v “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Tô Ngọc Liêm, ông Nguyễn Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Lê Trần Long, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 621/2024/TLST-HN ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1036/2024/QĐXXST-HN ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Châu An E, sinh năm 1984, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số D, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1984, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 10/10/2024, nguyên đơn ông Châu An E trình bày:
Ông và bà Cẩm T tìm hiểu nhau, tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 27/8/2020. Sau khi kết hôn thì ông và bà C sống bên nhà của ông ở ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2023 thì ông và bà C phát sinh mâu thuẫn do tiền của ông làm ra khi đưa cho bà C thì bà C không dùng để chăm lo cho gia đình mà lại sử dụng tiền đó để đánh bài dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến khoảng tháng 4/2024 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên bà C không còn sống chung với ông từ đó đến nay. Nay nhận thấy không còn tình cảm nên ông yêu cầu ly hôn với bà C.
- Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà C vẫn không đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông E vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà C. Về con chung thì vợ chồng không có con chung, về tài sản chung, nợ chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án vắng mặt đã không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông E đối với bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Châu An E có đơn yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị C, bà C cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Bà Nguyễn Thị C đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: ông E và bà C quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 27/8/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa ông E và bà C là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ông E xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bà C không quan tâm chăm sóc gia đình, ông E và bà C đã ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông E, bà C xuất phát từ việc bà C không chăm lo gia đình, ông E, bà C không còn sống chung từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bà C không có ý kiến. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa ông E, bà C là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông E đối với bà C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: ông E xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: ông E không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông E phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Châu An E.
- - Về quan hệ hôn nhân: ông Châu An E được ly hôn với bà Nguyễn Thị C.
- - Về án phí sơ thẩm:
Ông Châu An E phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023330 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 11 tháng 10 năm 2024.
Bà Nguyễn Thị C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 36/2025/HN-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 36/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 621/2024/TLST-HN ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1036/2024/QĐXXST-HN ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: ông Châu An E, sinh năm 1984, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số D, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt). 2. Bị đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1984, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
