Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36 /2025/HS-ST

Ngày: 24 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Minh Hà; bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 17/01/2025 đối với bị cáo:

Đỗ Hồng M, sinh năm 1994; CCCD số [...]; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, thôn H, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Đỗ Hồng Q, con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Bùi Thị T và 01 con; D chỉ bản số 644 do Công an quận H lập ngày 21/8/2024; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T3. Có mặt

* Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C. Địa chỉ: Số A, đường Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Lưu Hy V – Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Thu H – Giám đốc Công ty TNHH một thành viên C - Chi nhánh H2

Đại diện theo ủy quyền lại: Bà Đoàn Thị Ngọc T1, sinh năm 1995; CCCD số [...]. Chức vụ: Pháp chế doanh nghiệp. Địa chỉ: Lô B, KCN Q, M, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT liên hệ: 0947.874.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Đỗ Hồng M đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Ngày 01/4/2020, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viêC (TNHH C) chuyển phát nhanh C – Chi nhánh H2 (gọi tắt là Công ty C) ký hợp đồng lao động với Đỗ Hồng M thời hạn 01 năm, từ ngày 01/4/2020 đến ngày 01/4/2021. Công việc của M là nhân viên bưu tá (nhân viên giao hàng), địa điểm làm việc tại Bưu cục 024K09, địa chỉ: lô C, ô B, khu C, khu đô thị M, phường D, quận H, Hà Nội. Nhiệm vụ của M tại Công ty C là nhận hàng hóa từ bưu cục làm việc chuyển đến cho khách hàng; nhận hàng từ các shop, đơn vị đối tác của Công ty C về bưu cục; thu hộ tiền (COD), vận phí của những đơn phát thành công và nộp tiền thu hộ COD cho giao dịch viên (admin) hoặc bưu cục trưởng trước 16 giờ hàng ngày. Sau khi ký hợp đồng với Công ty C, M đã được tập huấn quy chế quản lý tiền, hàng hóa tại bưu cục trên ứng dụng “J&T Express" (ứng dụng của Công ty C) và phần mềm E3 (là phần mềm quản lý, giám sát, theo dõi mọi đơn hàng, đường đi của các đơn hàng, hành trình vận chuyển của đơn hàng và thể hiện việc vận chuyển của bưu tá). M đã được Công ty C giao cho tài khoản trên ứng dụng “J&T Express" tên đăng nhập là “024K0924190" (là mã nhân viên của M). Sau khi giao hàng thành công cho khách hàng M phải chụp ảnh, ký nhận bằng tài khoản của chính mình xác nhận đã giao hàng thành công tải lên ứng dụng "J&T Express". Toàn bộ dữ liệu quét nhận hàng, giao hàng thành công đều được chuyển hết lên phần mềm quản lý E3.

Tại Bưu cục B, M phải nộp tiền COD cho Bưu cục trưởng bưu cục 024K09 là chị Phạm Thị Bích H1 hoặc giao dịch viên (admin) của bưu cục là chị Trịnh Thị T2 vào trước 16 giờ mỗi ngày; nếu đơn hàng nào không giao được cho khách thì hoàn trả lại hàng cho bưu cục. Công ty C trả lương cho M hai lần trong một tháng vào ngày 10 và ngày 20 hàng tháng (ngày 10 công ty trả lương cơ bản, ngày 20 công ty trả lương phụ cấp và thưởng của tháng trước); trong 10 tháng đầu tiên M làm việc, Công ty C có giữ lại của M mỗi tháng 2.000.000 đồng (tổng 20.000.000 đồng) là tiền ký quỹ phòng tránh các trường hợp rủi ro, xe đi va chạm giao thông, vi phạm giao thông.

Sau khi hết hạn hợp đồng, M chưa có sai phạm gì nên được Công ty C tiếp tục ký hợp đồng thêm trong thời hạn 01 năm, từ ngày 01/4/2021 đến ngày 01/4/2022. Đến ngày 01/4/2022 do thời gian làm việc của M tại công ty C đã được 02 năm nên công ty C ký hợp đồng lao động số 024190-22/HĐLĐ với Đỗ Hồng M, loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Đến ngày 16/9/2022, do cần tiền chỉ tiêu cá nhân, M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền hàng của Công ty C. Thực hiện ý định này, sau khi nhận hàng từ Bưu cục 024K09, M đã đi giao hàng cho khách hàng, thu tiền hàng từ khách hàng, ký nhận việc giao hàng thành công lên hệ thống E3 của Công ty C, nhưng khi M quay về bưu cục gặp chị T2 là giao dịch viên, M nói dối chị T2 là đã chuyển tiền hàng vào tài khoản ngân hàng của chị T2, M lấy lý do cuối tuần ngân hàng nghỉ nên phải đợi đến đầu tuần thì chị T2 mới nhận được tiền. Chị T2 tin tưởng M là nhân viên của Công ty C lâu năm nên đến hôm sau vẫn tiếp tục giao hàng cho M đi giao hàng. Bằng thủ đoạn trên, trong các ngày 16, 17 và ngày 19/9/2022, M đã chiếm đoạt số tiền 79.571.1824 đồng của Công ty C. Cụ thể:

  • Ngày 16/9/2022 (Thứ 6), M đã giao thành công 45 đơn hàng và chiếm đoạt tổng số tiền 29.800.349 đồng.
  • Ngày 17/9/2022 (Thứ 7), M đã giao thành công 45 đơn hàng và chiếm đoạt tổng số tiền 15.293.131 đồng.
  • Ngày 19/9/2022 (Thứ hai), M đã giao thành công 40 đơn hàng và chiếm đoạt tổng số tiền 34.477.702 đồng.

Đến chiều ngày 19/9/2022 thì M không quay lại Bưu cục nữa rồi tự ý nghỉ việc. Công ty C có liên hệ với M thì Minh xác N1 đã giao thành công 130 đơn hàng trên và thu được số tiền 79.571.182đ, tuy nhiên M khất lần chưa nộp lại cho Công ty C, M nói do khó khăn nên M đã chỉ tiêu cá nhân hết số tiền trên, hứa hẹn sẽ trả dần số tiền này cho công ty. Tuy nhiên, M không trả lại tiền và cắt liên lạc với Công ty C.

Ngày 10/02/2023, Công ty C đã có đơn trình báo vụ việc đến Công an quận H (Bút lục A -165).

Tại Cơ quan điều tra, Công ty C trình bày: Do M tự ý nghỉ việc nên Công ty C còn giữ của M các loại tiền sau: Tiền thưởng, phụ cấp tháng 8/2022 của M là số tiền 5.544.5274 đồng; tiền lương cơ bản tháng 9/2022, tiền thưởng, phụ cấp đối với 19 ngày làm việc trong tháng 9/2022 của M là số tiền 6.296.9874 đồng và 10.000.000 đồng tiền đặt cọc ký quỹ của M (lý do vì ngày 18/8/2022, Công ty ra Thông báo về việc điều chỉnh hạn mức ký quỹ số 553, điều chỉnh hạn mức ký quỹ từ 20.000.000 đồng đối với một bưu tá xuống còn 10.000.000 đồng đối với một bưu tá), Công ty sẽ tiến hành hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng cho nhân viên bưu tá vào ngày 20/10/2022. Ngày 20/10/2022, Công ty đã chuyển khoản trả lại M số tiền đặt cọc 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 0691000444228 mang tên Đỗ Hồng M mở tại Ngân hàng TMCP N2). Tổng số tiền Công ty C còn giữ của M là 21.841.514 đồng.

Vật chứng thu giữ (Bút lục 199, 206, 248):

- Thu giữ của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh H2:

  • 01 (một) bản chỉnh và 01 bản sao Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH một thành viên C - chi nhánh H2 với Đỗ Hồng M.
  • 01 (một) bản chính và 01 (một) bản sao sơ yếu lý lịch của Đỗ Hồng M đề ngày 06/01/2020.
  • 01 (một) bản chính giấy khám sức khoẻ đề ngày 10/02/2020 đối với Đỗ Hồng M tại Bệnh viện Đ.
  • 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở K cấp ngày 21/3/2022 đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư TP Hà Nội cấp ngày 21/7/2022 đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2-Bưu cục D1.
  • 01 (một) bản sao quy định về chức năng, nhiệm vụ của nhân viên vận hành bưu cục đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao bảng lương của Đỗ Hồng M tháng 7, 8, 9/2022 tại Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Thông báo v/v điều chỉnh hạn mức ký quỹ số 553 ngày 18/8/2022 của Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Giấy uỷ quyền số 15 ngày 21/3/2022 của Công ty TNHH một thành viên C.
  • 01 (một) bản sao Sổ bảo hiểm xã hội đề tên Đỗ Hồng M.
  • 01 (một) bản sao Thông báo v/v đăng ký nội quy lao động số 76 ngày 12/5/2022 của Phòng Lao động thương binh và xã hội UBND quận B, TP Hồ Chí Minh.
  • 01 (một) bản sao Quyết định của Giám đốc Công ty TNHH MTV C về việc ban hành nội quy lao động ngày 15/5/2022.
  • 01 (một) bản sao Nội quy lao động của Công ty TNHH một thành viên C.

- Thu giữ của Đỗ Hồng M: Số tiền 10.000.000 đồng là tiền M tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả, bồi thường cho Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh H2.

Ngày 24/4/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 269 trưng cầu Phòng K1 - Công an T3 giám định chữ viết, chữ ký của Đỗ Hồng M trong Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2 với Đỗ Hồng M, sơ yếu lý lịch của Đỗ Hồng M đề ngày 06/01/2020 và giấy khám sức khoẻ đề ngày 10/02/2020 đối với Đỗ Hồng M tại Bệnh viện Đ. Tại Bản kết luận giám định số 3665/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng K1 - Công an T3 kết luận (Bút lục 41, 51):

“1. Chữ viết từ mục “Họ và tên (Chữ in hoa)” đến mục “Lý do khám sức khoẻ” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, chữ viết dòng họ tên Đỗ Hồng M dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 với chữ viết đứng tên Đỗ Hồng M trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 là chữ do cùng một người viết ra.

2. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ Al đến A3 với chữ ký đứng tên Đỗ Hồng M trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 có phải là chữ do cùng một người ký ra hay không".

Đối với số tiền 10.000.000 đồng thu giữ M, là số tiền M tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả, bồi thường cho Công ty C; ngày 23/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Công ty C số tiền này.

* Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Hồng M đã thông qua gia đình bồi thường cho Công ty C số tiền 47.730.000 đồng. Công ty C sau khi đối trừ số tiền còn giữ lại của M là 21.841.514 đồng, đã nhận đủ số tiền M chiếm đoạt, Công ty C không có yêu cầu và đề nghị gì.

Tại Bản Cáo trạng số 342/CT-VKS-HĐ ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố: Đỗ Hồng M về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo khai đã thực hiện hành vi như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với xã hội làm công dân có ích.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng M phạm tội “Tham ô tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, phạt từ 30 – 36 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[3]. Về sự vắng mặt của Bị hại: Đại diện ủy quyền của Bị hại có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[4]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Đỗ Hồng M là nhân viên của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh H2, có trách nhiệm giao, nhận hàng hóa, bưu kiện cho khách hàng, thu tiền hộ, tiền cước vận chuyển (nếu có) và giao nộp toàn bộ số tiền thu hộ cho Bưu cục 024K09, địa chỉ: lô C, ô B, khu C, khu đô thị M, phường D, quận H, TP Hà Nội. Lợi dụng chức vụ được giao trên, trong 03 ngày làm việc 16, 17, 19/9/2022, Đỗ Hồng M đã 03 lần nhận 130 đơn hàng từ Công ty TNHH MTV C- Chi nhánh H2 (được xác nhận trên App ứng dụng J&T Sprinter) để giao cho khách hàng và thu hộ tổng số tiền là 79.571.182 đồng, nhưng M không chuyển tiền về Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh H2 mà chiếm đoạt số tiền 79.571.182 đồng để chi tiêu cá nhân.

Hành vi nêu trên của Đỗ Hồng M đã phạm vào tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Điều 353. Tội Tham ô tài sản quy định:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

c) Phạm tội 02 lần trở lên;"

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Đỗ Hồng M về tội danh, điều, khoản, điểm nói trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi tham ô tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của các doanh nghiệp. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội nhiều lần, thuộc tội rất nghiêm trọng nên bị áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ:
  • + Bị cáo đã thông qua gia đình tích cực bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Bị hại để khắc phục hậu quả và được Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • + Bị cáo được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.

[7]. Về vật chứng đã thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh H2 các tài liệu sau:

  • 01 (một) bản chỉnh và 01 bản sao Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH một thành viên C - chi nhánh H2 với Đỗ Hồng M.
  • 01 (một) bản chính và 01 (một) bản sao sơ yếu lý lịch của Đỗ Hồng M đề ngày 06/01/2020.
  • 01 (một) bản chính giấy khám sức khoẻ đề ngày 10/02/2020 đối với Đỗ Hồng M tại Bệnh viện Đ.
  • 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở K cấp ngày 21/3/2022 đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư TP Hà Nội cấp ngày 21/7/2022 đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2-Bưu cục D1.
  • 01 (một) bản sao quy định về chức năng, nhiệm vụ của nhân viên vận hành bưu cục đối với Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao bảng lương của Đỗ Hồng M tháng 7, 8, 9/2022 tại Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Thông báo v/v điều chỉnh hạn mức ký quỹ số 553 ngày 18/8/2022 của Công ty TNHH một thành viên C-chi nhánh H2.
  • 01 (một) bản sao Giấy uỷ quyền số 15 ngày 21/3/2022 của Công ty TNHH một thành viên C.
  • 01 (một) bản sao Sổ bảo hiểm xã hội đề tên Đỗ Hồng M.
  • 01 (một) bản sao Thông báo v/v đăng ký nội quy lao động số 76 ngày 12/5/2022 của Phòng Lao động thương binh và xã hội UBND quận B, TP Hồ Chí Minh.
  • 01 (một) bản sao Quyết định của Giám đốc Công ty TNHH MTV C về việc ban hành nội quy lao động ngày 15/5/2022.
  • 01 (một) bản sao Nội quy lao động của Công ty TNHH một thành viên C.

Xét thấy các tài liệu trên là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của M, hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, nên tiếp tục được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Hồng M đã tự nguyện bồi thường đủ cho Công ty C số tiền 79.571.182 đồng (bao gồm: 47.730.000 đồng bồi thường thông qua gia đình M; 21.841.514 đồng được đối trừ thông qua tiền lương và tiền đặt cọc ký quỹ của M; 10.000.000 đồng do trực tiếp M nộp khắc phục hậu quả); Công ty C không có yêu cầu bồi thường gì; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng M phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, phạt:

    Đỗ Hồng M: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024.

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Đỗ Hồng M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Q. Hà Đông;
  • - Công an Q. Hà Đông;
  • - CC THA Q. Hà Đông;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hồng M tham ô tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger