|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2025 V/v: “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình về “Ly hôn, nuôi con” thụ lý số: 528/2024/TLST–HNGĐ ngày 25/11/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thanh T, sinh năm 1992.
Nơi đăng ký HKTT: thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Tổ D, xóm R, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 1982.
Nơi đăng ký HKTT: thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Trại giam T2 – Bộ C.
Tại phiên tòa: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B đều có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn - Chị Hoàng Thị Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B kết hôn năm 2011 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội vào ngày 14/03/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn N, xã N, huyện C.
Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2021 thì anh B có bán căn nhà hai vợ chồng đang ở và có hiện tượng chơi bời với các bạn xấu nên vợ chồng mâu thuẫn nhau và phát sinh bất đồng quan điểm sống, chị T đã khuyên anh B nhiều lần nhưng anh B không từ bỏ được. Đến tháng 03/2022, anh B bị bắt về tội liên quan đến ma tuý và bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh B đang chấp hành án phạt tù tại Trại Giam T2 – Bộ C. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh B để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T và anh B có 01 (Một) con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011 hiện con chung là Nguyễn Thị Ngọc Á đang ở cùng chị T. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Ngọc Á.
Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung do anh B đang chấp hành án phạt tù do phạm tội liên quan đến ma túy.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.
* Tại bản tự khai của anh Nguyễn Hữu B tại Trại giam T2 ngày 14/01/2025. Bị đơn - Anh Nguyễn Hữu B trình bày:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu B thừa nhận thời điểm kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, nơi vợ chồng chung sống sau khi kết hôn như chị T trình bày. Theo anh B, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng 02 năm trở lại đây do anh phải đi chấp hành án nên tình cảm vợ chồng phai nhạt. Nay chị T xin ly hôn, anh B không đồng ý ly hôn. Nhưng nếu chị T cương quyết xin ly hôn thì anh B đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh B thừa nhận vợ chồng có 01 (Một) con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011. Nay ly hôn, con chung Nguyễn Thị Ngọc Á muốn ở với ai thì sẽ theo nguyện vọng của con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh B không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn ghi nguyện vọng của con chung: Con chung là Nguyễn Thị Ngọc Á có nguyện vọng được chị T nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa: Chị Hoàng Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hữu B và có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung; hiện anh B đang phải chấp hành án phạt tù và anh B xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ có quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Thanh T và cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Hữu B; về con chung: Đề nghị giao 01 con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có quyết định khác; về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét; về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B đều có hộ khẩu thường trú tại: thôn N, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
[1.2] Về sự vắng mặt của chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B: Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Hữu B do đang phải chấp hành án phạt tù và đã có đơn xin được xét xử vắng mặt. Anh B và chị T đều đã có ý kiến trình bày quan điểm của mình nên việc vắng mặt anh anh B và chị T tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội nên hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống và do anh B xa vào tệ nạn xã hội và hiện anh B đang phải chấp hành án phạt tù về tội liên quan đến ma túy. Nay chị T xin ly hôn anh B, anh B không đồng ý ly hôn nhưng anh B có quan điểm nếu chị T cương quyết xin ly hôn thì anh B đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B đã ly thân được một thời gian, trong thời gian ly thân cả hai đều không có giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng, anh B hiện đang phải chấp hành án phạt tù. Nay chị T cương quyết xin ly hôn với anh B nên cần xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh B là trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T và cho chị T được ly hôn anh B để cả hai ổn định cuộc sống.
[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B có 01 (Một) con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011 hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy: Anh Nguyễn Hữu B hiện đang phải chấp hành án phạt tù với thời hạn 08 (T1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy, anh B hiện không đủ điều kiện nuôi con chung. Do vậy, cần giao cho chị T nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Ngọc Á. Trong trường hợp anh B chấp hành án xong mà có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung thì anh B và chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” bằng một vụ kiện khác.
[2.3] Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Hữu B hiện đang phải chấp hành án phạt tù, không đủ điều kiện cấp dưỡng nuôi con chung nên anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Nguyễn Hữu B cho đến khi có yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung, công sức, công nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Thanh T và cho chị Hoàng Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Hữu B.
[2]. Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B có 01 (Một) con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011.
Giao con chung là Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/09/2011 cho chị Hoàng Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi tròn 18 tuổi hoặc cho đến khi có quyết định khác.
Anh Nguyễn Hữu B có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Hữu B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Nguyễn Hữu B cho đến khi có yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung: Không xem xét.
[5]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Hoàng Thị Thanh T đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23 số: 0062052 ngày 20 tháng 11 năm 2024) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Thanh T và anh Nguyễn Hữu B vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhân:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
