|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 36/2025/DS-ST Ngày 22 - 01 - 2025 V/v Tranh chấp hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Ông Trương Huỳnh Hải. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hồ Quang Minh. |
| Ông Duyên Văn Hiền. |
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1056/2024/TLST-DS ngày 06/12/2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-DS ngày 03/01/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1966.
Bà Trần Thị N, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Bà Tô Thị K, sinh năm 1978.
Ông Trịnh Tấn P, sinh năm 1978.
Người đại diện hợp pháp của ông P: Bà Tô Thị K, sinh năm 1978 – Là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 02/01/2025).
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các đơn khởi kiện cùng ngày 06/12/2024 của các nguyên đơn, lời trình bày của các nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:
Các nguyên đơn xác định các dây hụi có tranh chấp thì hụi được khui có chủ hụi, hụi viên đầy đủ và rõ ràng, không có bất kỳ hành vi gian dối nào của chủ hụi, do các hụi viên khác hốt hụi không đóng hụi chết lại, nên chủ hụi mới mất khả năng thanh toán nợ hụi. Các nguyên đơn đã có gửi đơn rút lại yêu cầu xử lý hình sự đối với bị đơn.
Dây hụi thứ nhất:
Vào ngày 10/4/2021 âm lịch vợ chồng bà K và ông P có mở 01 dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi có 57 chưng, hụi 01 tháng khui 01 lần (bà B tham gia chơi 06 chưng, bà N tham gia chơi 10 chưng, bà Y tham gia chơi 01 chưng). Quá trình khui hụi bà B đóng được 34 kỳ hụi sống đối với 06 chưng hụi; bà N đóng được 34 kỳ hụi sống đối với 07 chưng, còn 03 chưng đã hốt hụi xong (còn nợ lại chủ hụi đến mãn ở 03 chưng hụi chết là 345.000.000 đồng); bà Y đóng được 34 kỳ hụi sống đối với 01 chưng. Đến kỳ hụi 35 thì vợ chồng bà K và ông P tuyên bố đình hụi. Tổng số hụi sống từ lần đóng vào cụ thể các nguyên đơn không nhớ. Dây hụi này là hụi thoả thuận có lãi, chủ hụi được hưởng hoa hồng 4.000.000 đồng/chưng hụi. Trong dây hụi này:
+ Tổng số tiền hụi bà B đóng vào có vốn và lãi là 06 chưng X 34 lần X 5.000.000 đồng = 1.020.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 06 chưng X 4.000.000 đồng = 24.000.000 đồng, còn lại 996.000.000 đồng vợ chồng bà K và ông P phải có trách nhiệm trả.
+ Tổng số tiền hụi bà N đóng vào có vốn và lãi là 07 chưng X 34 lần X 5.000.000 đồng = 1.190.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 07 chưng X 4.000.000 đồng = 28.000.000 đồng, (còn lại 1.162.000.000 đồng trừ đi 03 chưng hụi chết 345.000.000 đồng), còn lại tiền hụi 817.000.000 đồng vợ chồng bà K và ông P phải có trách nhiệm trả.
+ Tổng số tiền hụi bà Y đóng vào có vốn và lãi là 01 chưng X 34 lần X 5.000.000 đồng = 170.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 01 chưng = 4.000.000 đồng, còn lại 166.000.000 đồng vợ chồng bà K và ông P phải có trách nhiệm trả.
Dây hụi thứ hai:
Vào ngày 25/4/2022 âm lịch vợ chồng bà K và ông P có mở 01 dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi có 54 chưng, hụi 01 tháng khui 01 lần (bà B tham gia chơi 06 chưng, bà N tham gia chơi 02 chưng, bà Y tham gia chơi 02 chưng). Quá trình khui hụi bà B đóng được 23 kỳ hụi sống đối với 05 chưng hụi, còn 01 chưng đã hốt xong (còn nợ lại chủ hụi đến mãn ở 01 chưng hụi chết là 155.000.000 đồng); bà N đóng được 23 kỳ hụi sống đối với 01 chưng, còn 01 chưng đã hốt hụi xong (còn nợ lại chủ hụi đến mãn ở 01 chưng hụi chết là 155.000.000 đồng); bà Y đóng được 23 kỳ hụi sống đối với 01 chưng, còn 01 chưng đã hốt hụi xong (còn nợ lại chủ hụi đến mãn ở 01 chưng hụi chết là 155.000.000 đồng). Đến kỳ hụi 24 thì vợ chồng bà K và ông P tuyên bố đình hụi. Tổng số hụi sống từ lần đóng vào cụ thể các nguyên đơn không nhớ. Dây hụi này cũng là hụi thoả thuận có lãi, chủ hụi được hưởng hoa hồng 4.000.000 đồng/chưng hụi. Trong dây hụi này:
+ Tổng số tiền hụi bà B đóng vào có vốn và lãi là 05 chưng X 23 lần X 5.000.000 đồng = 575.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 05 chưng X 4.000.000 đồng = 20.000.000 đồng, (còn lại 555.000.000 đồng trừ đi 01 chưng hụi chết 155.000.000 đồng), còn lại tiền hụi 400.000.000 đồng vợ chồng bà K và ông P phải có trách nhiệm trả.
+ Tổng số tiền hụi bà N đóng vào có vốn và lãi là 01 chưng X 23 lần X 5.000.000 đồng = 115.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 01 chưng = 4.000.000 đồng, (còn lại 111.000.000 đồng trừ đi 01 chưng hụi chết 155.000.000 đồng), còn nợ lại vợ chồng bà K và ông P hụi 44.000.000 đồng.
+ Tổng số tiền hụi bà Y đóng vào có vốn và lãi là 01 chưng X 23 lần X 5.000.000 đồng = 115.000.000 đồng trừ hoa hồng cho chủ hụi 01 chưng = 4.000.000 đồng, (còn lại 111.000.000 đồng trừ đi 01 chưng hụi chết 155.000.000 đồng), còn nợ lại vợ chồng bà K và ông P hụi 44.000.000 đồng.
Các nguyên đơn không thống nhất với số tiền khui hụi theo danh sách hụi viên bị đơn cung cấp tại phiên toà.
Nay các nguyên đơn không thống nhất việc xin phần tiền lãi từ hụi (vì tiền lãi hụi là được hưởng từ hụi viên khác, thực tế chủ hụi sẽ thu tiền hụi chết từ hụi viên là có lãi), các nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bà K và ông P có trách nhiệm liên đới trả cho: Bà B tổng số tiền hụi 1.396.000.000 đồng, bà N tổng số tiền hụi 773.000.000 đồng, bà Y tổng số tiền hụi 122.000.000 đồng.
- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Bà K thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn về thời gian khui hụi, loại hụi, tổng số chưng hụi của các nguyên đơn tham gia chơi của từng dây hụi là hoàn toàn đúng sự thật, do các hụi viên khác hốt hụi không đóng lại hụi chết, nên không có khả năng tiếp tục khui hụi và hiện nay đã đình hụi. Cụ thể:
Dây hụi thứ nhất khui được 34 kỳ:
+ Tổng số tiền hụi sống bà Bích đóng đối với 06 chưng hụi ở dây hụi này là 629.280.000 đồng (không có lãi hụi).
+ Tổng số tiền hụi sống bà N đóng đối với 07 chưng hụi ở dây hụi này là 734.160.000 đồng (không có lãi hụi), 03 chưng hụi chết bà N còn nợ đến mãn là 345.000.000 đồng (có lãi hụi).
+ Tổng số tiền hụi sống bà Y đóng đối với 01 chưng hụi ở dây hụi này là 104.880.000 đồng (không có lãi hụi).
Dây hụi thứ hai khui được 23 kỳ:
+ Tổng số tiền hụi sống bà Bích đóng đối với 05 chưng hụi ở dây hụi này là 354.500.000 đồng (không có lãi hụi), chưng hụi chết bà B còn nợ đến mãn là 155.000.000 đồng (có lãi hụi).
+ Tổng số tiền hụi sống bà N đóng đối với 01 chưng hụi ở dây hụi này là 70.900.000 đồng (không có lãi hụi), chưng hụi chết bà N còn nợ đến mãn là 155.000.000 đồng (có lãi hụi).
+ Tổng số tiền hụi sống bà Y đóng đối với 01 chưng hụi ở dây hụi này là 70.900.000.000 đồng (không có lãi hụi), chưng hụi chết bà Y còn nợ đến mãn là 155.000.000 đồng (có lãi hụi).
Nay bà K đồng thời với tư cách là người đại diện cho ông P đề nghị các nguyên đơn cho xin phần tiền lãi hụi, trả tiền hụi gốc trừ đi tiền hụi chết có lãi, đồng ý trả cho: Bà B số tiền 828.780.000 đồng, bà N số tiền 305.060.000 đồng, bà Y 20.780.000 đồng.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
[1.1] Sau khi Toà án thụ lý vụ án thì biết được trước đó các nguyên đơn đã có đơn tố giác tội phạm đối với bị đơn. Ngày 29/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cà Mau ban hành văn bản số: 600/ĐTTH với nội dung: Ngày 03/11/2024 Cơ quan điều tra đã tạm đình chỉ về giải quyết nguồn tin về tội phạm, ngày 26/12/2024 các nguyên đơn đã có đơn rút yêu cầu xử lý hình đối với bị đơn và yêu cầu chuyển yêu cầu về giải quyết dân sự đến Toà án để giải quyết theo thẩm quyền, qua xác minh cho đến nay chưa có căn cứ chứng minh hành vi của bị đơn có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản và việc tách vấn đề dân sự theo yêu cầu của các nguyên đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã cam kết và xác định các dây hụi có tranh chấp không có bất kỳ hành vi gian dối nào của chủ hụi, lý do hụi đình và mất khả năng thanh toán là do các hụi viên khác hốt hụi không đóng hụi chết lại, các nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện theo quy định, nên Toà án thụ lý giải quyết vụ việc theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự là đúng theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
[1.2] Các nguyên đơn xác định bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hụi theo thỏa thuận giữa chủ hụi và các hụi viên, nên khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, loại hụi và tổng số chưng hụi của các nguyên đơn tham gia chơi của từng dây hụi do bị đơn làm chủ. Hiện nay các dây hụi đã đình, các đương sự thống nhất tự nguyện đối trừ nghĩa vụ hụi sống và hụi chết với nhau sau khi đã đình hụi, nhưng sau khi đình hụi thì bị đơn không hoàn trả tiền hụi cho các nguyên đơn và có đề nghị xin phần tiền lãi hụi của hụi sống và các nguyên đơn không đồng ý, nên phát sinh tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Bị đơn thừa nhận dây hụi thứ nhất khui được 34 kỳ thì bà B đóng được 06 chưng, bà N đóng được 07 chưng, bà Y đóng được 01 chưng và dây hụi thứ hai khui được 23 kỳ thì bà B đóng được 05 chưng, bà N đóng được 01 chưng, bà Y đóng được 01 chưng. Xét thấy việc thoả thuận hụi giữa các bên là hụi có lãi với nội dung hụi viên được hưởng lãi trên kỳ hụi đóng vào từ hụi viên được hốt hụi ở từng kỳ khui hụi và chủ hụi được hưởng hoa hồng trên từng kỳ khui hụi, việc thoả thuận giữa các bên khi xác lập là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các nguyên đơn được hưởng lãi trên từng kỳ hụi đóng vào là đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số: 19).
[2.2] Các nguyên đơn xác định không nhớ được các khoản tiền đóng cụ thể ở từng kỳ hụi khui; bị đơn thì xác định được tổng số tiền hụi sống các nguyên đơn đóng vào theo danh sách bị đơn tự theo dõi và ghi chép, nhưng các nguyên đơn không thống nhất. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh được từng số tiền cụ thể của từng lần đóng theo thời gian, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét tính tiền lãi theo lãi suất quy định trên từng kỳ hụi cụ thể. Hơn nữa, qua xem xét số tiền khui hụi theo danh sách bị đơn cung cấp thì tổng khoản tiền vốn hụi và tính lãi suất theo quy định thì phù hợp với các khoản tiền các nguyên đơn yêu cầu. Mặt khác, tiền lãi hụi được hụi viên hốt hụi trả cho hụi viên có hụi đóng hụi sống, chứ không phải chủ hụi phải trả khoản tiền lãi này và thực tế chủ hụi có quyền yêu cầu các hụi viên phải trả tiền hụi chết, cho đến nay thì cũng chưa có bất kỳ hụi viên nào yêu cầu gì liên quan đến lãi hụi trong các dây hụi này. Do đó, cần xem xét tiền vốn hụi và tiền lãi hụi theo mức loại hụi các bên thoả thuận là phù hợp theo quy định tại Điều 21 Nghị định số: 19.
[2.3] Như vậy, tổng số tiền vốn hụi và lãi hụi các nguyên đơn đóng được ở các chưng hụi sống trừ đi hoa hồng cho chủ hụi và các khoản tiền hụi ở các chưng hụi chết các nguyên đơn phải đóng đến mãn hụi được xác định, cụ thể như sau:
+ Bà Bích đóng được hụi sống ở dây hụi thứ nhất tổng số 06 chưng X 34 kỳ X 5.000.000 đồng = 1.020.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 24.000.000 đồng, còn lại 996.000.000 đồng; dây hụi thứ hai tổng số 05 chưng X 23 kỳ X 5.000.000 đồng = 575.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 20.000.000 đồng, còn lại 555.000.000 đồng. Tổng số tiền hụi sống là 1.551.000.000 đồng – tiền hụi chết là 155.000.000 đồng = 1.396.000.000 đồng.
+ Bà N đóng được hụi sống ở dây hụi thứ nhất tổng số 07 chưng X 34 kỳ X 5.000.000 đồng = 1.190.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 28.000.000 đồng, còn lại 1.190.000.000 đồng; dây hụi thứ hai tổng số 01 chưng X 23 kỳ X 115.000.000 đồng = 115.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 4.000.000 đồng, còn lại 111.000.000 đồng. Tổng số tiền hụi là 928.000.000 đồng – tiền hụi chết là 155.000.000 đồng = 773.000.000 đồng.
+ Bà Y đóng được hụi sống ở dây hụi thứ nhất tổng số 01 chưng X 34 kỳ X 5.000.000 đồng = 170.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 4.000.000 đồng, còn lại 166.000.000 đồng; dây hụi thứ hai tổng số 01 chưng X 23 kỳ X 115.000.000 đồng = 115.000.000 đồng – trừ tiền hoa hồng 4.000.000 đồng, còn lại 111.000.000 đồng. Tổng số tiền hụi là 277.000.000 đồng – tiền hụi chết là 155.000.000 đồng = 122.000.000 đồng.
[2.4] Các dây hụi hiện nay đã đình theo sự thoả thuận giữa các bên và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền hụi theo thỏa thuận giữa các bên và nghĩa vụ của bị đơn phát sinh từ giao dịch của vợ chồng cùng xác lập, nên cần buộc bị đơn phải có trách nhiệm liên đới cho các nguyên đơn các khoản tiền hụi nêu trên đúng theo quy định tại Điều Điều 471 Bộ luật dân sự (BLDS); Điều 23 Nghị định số: 19.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với tổng số tiền tiền theo yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số: 326). Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí các nguyên đơn đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 471 BLDS; Điều 15, Điều 21, Điều 23 Nghị định số: 19; Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số: 326.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc B.
Buộc bị đơn bà Tô Thị K và ông Trịnh Tấn P có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc B tổng số tiền hụi là 1.396.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N.
Buộc bị đơn bà Tô Thị K và ông Trịnh Tấn P có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Trần Thị N tổng số tiền hụi là 773.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Y.
Buộc bị đơn bà Tô Thị K và ông Trịnh Tấn P có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Y tổng số tiền hụi là 122.000.000 đồng.
Kể từ ngày các nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả các khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với các khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch:
- Buộc bị đơn bà Tô Thị K và ông Trịnh Tấn P phải nộp là 77.820.000 đồng (Chưa nộp).
- Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc B đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 27.600.000 đồng theo biên lai thu số: 0005008 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
- Nguyên đơn bà Trần Thị N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 18.075.000 đồng theo biên lai thu số: 0005007 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Y đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 3.250.000 đồng theo biên lai thu số: 0005009 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Huỳnh Hải |
Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 36/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn, buộc trả nợ.