TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HSST Ngày: 24-10-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Quản; bà Vũ Thị Hà.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 24/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn D - Sinh năm 1994, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; HKTT: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị V; có vợ là Phạm Thị L (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/8/2024 đến ngày 18/9/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Bị hại: Ông Mai Văn N – sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Anh Phạm Quang S – sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
2/ Bà Mai Thị T - sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn D, sinh năm 1994, trú tại Thôn E, xã N, huyện N, không có công ăn việc làm ổn định, lại đang nợ nần. Do trước đây D từng đi làm thợ cho nhà anh Mai Văn N sinh năm 1972, trú tại Thôn N, xã N, huyện N (anh N là cậu ruột của vợ cũ D) nên tối ngày 08/8/2024 trong lúc xem facebook biết vợ chồng anh N đi du lịch, D nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh N trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ ngày 09/8/2024, D mặc quần dài màu xanh xám, áo dài tay màu xanh, dùng khăn bịt mặt, một mình điều khiển xe máy Sirius biển kiểm soát 36G1- 215.08 đi từ nhà mình qua nhà anh N khoảng 20m rẽ phải rồi dừng lại trước nhà ông Bùi Văn T1. D quan sát thấy nhà ông T1 là căn nhà để hoang, không có người trông coi nên tắt máy, dựng xe ở ngay cổng, trèo qua tường vào bên trong sân nhà ông T1, đi bộ khoảng 20m rồi trèo qua tường rào vào phía sau vườn nhà anh N vòng qua khu bể nước đến trước cửa bếp, thò tay qua lỗ thủng đẩy chốt của bếp ra đi lên phòng khách. Vừa đi D vừa quan sát, thấy cửa phòng ngủ tầng 1 đang khóa, D quay ra khu bể nước lấy kìm cộng lực mang vào cắt khóa, bỏ ổ khóa vào túi quần bên trái và mở cửa bước vào phòng bật điện quan sát thấy phía tây phòng ngủ, ngay sát cửa ra vào có một két kim loại. D mang kìm cộng lực để lại vị trí cũ trên bể nước, lấy chiếc xà cầy hình chữ L dài 81cm, một đầu dẹt mang vào luồn một đầu dẹt của xà cầy vào kẽ của cánh cửa két tỷ vào cạnh cửa cậy 3-4 lần thì cánh cửa phía trước két bung ra. D quan sát thấy bên trong két kim loại có 02 ngăn, ngăn dưới có một số giấy tờ không có giá trị, ngăn trên có 01 hộp giấy dạng hộp vỏ điện thoại màu trắng, D mở hộp giấy thấy 02 hộp nhựa màu đỏ, kiểm tra trong 02 hộp nhựa màu đỏ có 02 sợi dây chuyền vàng, 01 đôi hoa tai bằng vàng nên D bỏ cả 02 hộp vàng vào hộp giấy cất trong túi quần bên phải. Sau đó, tắt điện, khép cửa phòng đi ra khu bể nước, đem theo kìm cộng lực, xà cầy trèo qua tường rào sang khu đất nhà ông T1 ném kìm cộng lực, xà cầy xuống bờ tây ao, còn ổ khóa D ném ra giữa ao nhà ông T1. Sau đó, trèo tường rào ra ngoài, nổ máy xe đi về, trên đường về D tháo khăn bịt mặt ném xuống đường rồi tiếp tục đi về nhà. Sau khi về nhà D kiểm tra lại tài sản bỏ 02 dây chuyền, 01 đôi hoa tai vào 01 hộp nhựa hình khối trụ màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN THỊNH XÓM 7-NGA LIÊN-NGA SƠN đường kính 06cm, cao 3,8cm và cất vào túi áo khoác vải dài tay, màu xanh treo trên móc áo trên tường phòng ngủ, còn 01 hộp nhựa hình khối trụ màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN MẠNH XÓM 7-NGA LIÊN-NGA SƠN, đường kính 3,5cm, cao 2cm và vỏ hộp giấy, quần áo, Dương vứt trên bể nước rồi đi ngủ.
Sáng ngày 09/8/2024, vợ chồng anh N nhận được điện thoại của chị gái anh N là bà Mai Thị T báo tin gia đình bị kẻ gian phá khoá trộm cắp tài sản, anh N đã dừng chuyến du lịch về nhà và làm đơn trình báo Công an về việc gia đình anh bị kẻ gian đột nhập vào nhà phá két sắt trộm cắp 8,5 chỉ vàng gồm: 01 dây chuyền vàng 05 chỉ loại vàng 9999 mua của cửa hàng N1, 01 dây chuyền vàng 02 chỉ loại vàng 9999 và 01 đôi bông tai nụ vàng 1,5 chỉ loại vàng 9999, số vàng trên mua từ lâu không nhớ vào thời gian nào. Tổng số vàng trên trị giá khoảng 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).
Cùng ngày 09/8/2024, Phạm Văn D nhận thấy hành vi của bản thân vi phạm pháp luật đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N tự thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Văn D tại Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thu giữ tài sản và vật chứng gồm:
- + Tại móc treo quần áo gắn trên tường trong phòng ngủ của nhà D phát hiện thu giữ 01 áo khoác vải, dài tay, màu xanh đã qua sử dụng trong túi áo bên phải có 01 hộp nhựa hình khối trụ màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN THỊNH * XÓM 7-NGA LIÊN- NGA SƠN đường kính 06cm, cao 3,8cm bên trong có:
- - 01 sợi dây chuyền màu vàng, chiều dài 47cm, ở đầu chốt dây chuyền có ghi ký hiệu: LH* TBT;
- - 01 sợi dây chuyền màu vàng, chiều dài 49cm, ở đầu chốt dây chuyền có ghi chữ MẠNH, phía ngoài dây truyền có 01 khối hình cầu rỗng màu vàng;
- - 01 đôi khuyên tai màu vàng có chiều dài 1,8cm, chỗ rộng nhất đường kính 0,9cm, bên trên khuyên tai có ký hiệu TN*IBJ;
- + Tại bể nước phía nền nhà tắm (bể không có nắp) phát hiện thu giữ:
- - 01 áo sơ mi bằng vải, dài tay, màu xanh đã qua sử dụng;
- - 01 quần dài bằng vải, màu xanh xám đã qua sử dụng.
- - 01 vỏ hộp điện thoại bằng giấy, bên trong có dòng chữ SAM SUNG A11, kích thước (17x 9x5)cm, đã qua sử dụng;
- - 01 hộp nhựa, hình khối trụ mà đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN MẠNH * XÓM 7 -NGA LIÊN - NGA SƠN, đường kính 3,5cm, cao 2cm, đã qua sử dụng.
- + Tiến hành khám nghiệm hiện trường cơ quan Cảnh sát điều tra thu tại gia đình anh Mai Văn N gồm:
- - 01 két kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp loại 01 cánh đứng, khoá mật mã cơ xoay, 02 chốt, size: 50, số seri: 26709, kích thước bao (83x 52x36)cm bị hư hỏng, cong vênh phần mặt trước cánh cửa, két đã qua sử dụng;
- - 01 thanh kim loại màu xám, trên thân có các đường gân song song, dài 81cm, đường kính phi 18, một đầu dẹp 08cm, hai mặt bám dính chất màu xanh. Một đầu cong dài 7cm, phần đầu dẹt rộng 3cm, xẻ rãnh ở giữa, bám dính chất màu xanh, đã qua sử dụng;
- - 01 kìm cộng lực dài 92cm, tay cầm bằng nhựa, màu hồng có chữ “KTN phần lưỡi có số “36-900”, đã qua sử dụng.
Những đồ vật tài liệu trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện N tạm giữ, niêm phong theo quy định. Đồng thời trích xuất dữ liệu camera để phục vụ điều tra.
Ngày 12/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trưng cầu V1 Bộ C, giám định số kim loại (màu vàng) đã thu giữ theo biên bản khám xét nơi ở của Phạm Văn D, giám định dữ liệu camera đã thu giữ và Yêu cầu định giá tài sản vụ trộm. Kết quả giám định và định giá như sau:
Tại bản kết luận giám định số 6154/KI-KTHS ngày 13/8/2024 của V1 Bộ C kết luận:
- - 01 dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau có chiều dài 47cm, ở đầu chốt dây chuyền có ghi ký hiệu LH*TBJ, có tổng trọng lượng 7,50 gam là vàng (A), hàm lượng A là 99,86%; (ký hiệu M1)
- - 01 dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, một đầu chốt dây chuyền có ghi ký hiệu “MANH” phía ngoài dây chuyền có một khối hình cầu rỗng màu vàng, có tổng khối lượng 18,68 gam đều là vàng (A), hàm lượng A là 99,89%; (ký hiệu M2)
- - 02 khuyên tai kim loại màu vàng giống nhau, có chiều dài 1,8cm, phần rộng nhất có đường kính 0,9cm, bên khuyên tai có ký hiệu “TN TBJ”, có tổng khối lượng 5,62% gam đều là vàng (A), hàm lượng A là 99,87%; (ký hiệu M3).
Tại bản Kết luận giám định số 3165/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công án tỉnh T kết luận:
- - Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 5 (năm) tệp video của 01 thẻ nhớ gửi giám định;
- - Mô tả một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định (thể hiện trong phụ lục).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HDĐG ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N kết luận như sau:
- - 01 két kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp loại 01 cánh đứng, khoá mật mã cơ xoay, 02 chốt, size: 50, số seri: 26709, kích thước bao ( 83x 52x 36)cm bị hư hỏng, cong vênh phần mặt trước cánh cửa, két đã qua sử dụng; trị giá: 100.000₫.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm vật chứng là 01 khăn bịt mặt màu tím đã cũ, 01 ổ khoá nhưng không tìm thấy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HDĐG ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N kết luận như sau:
- - 01 dây chuyền kim loại màu vàng ký hiệu M1 trị giá: 15.000.000đ.
- - 01 dây chuyền kim loại màu vàng ký hiệu M2 trị giá: 37.500.000₫
- - 02 khuyên tai kim loại màu vàng ký hiệu M3 trị giá: 11.250.000₫
- - 01 thanh kim loại màu xám, trên thân có các đường gân song song, dài 81cm, đường kính phi 18, một đầu dẹp 08cm, hai mặt bám dính chất màu xanh. Một đầu cong dài 7cm, phần đầu dẹt rộng 3cm, xẻ rãnh ở giữa, bám dính chất màu xanh đã qua sử dụng; trị giá: 10.000 đồng
- - 01 kìm cộng lực dài 92cm, tay cầm bằng nhựa, màu hồng có chữ “KTN” phần lưỡi có số “36-900”, đã qua sử dụng; trị giá: 60.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Phạm Văn D trộm cắp của nhà anh Mai Văn N ngày 9/8/2024 là: 63.820.000₫ (Sáu mươi ba triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
Đối với hành vi dùng xà cầy cậy két sắt để trộm cắp tài sản của D không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” do tài sản két sắt bị hư hỏng trị giá: 100.000 đồng, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức phạt tiền là phù hợp.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra tài sản đã được thu hồi trả cho gia đình anh Mai Văn N, anh N đã nhận lại đầy đủ tài sản (02 dây truyền vàng, 01 đôi hoa tai bằng vàng, kìm cộng lực, xà cầy), vì vậy anh N không yêu cầu D phải bồi thường gì thêm.
* Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- + Trả lại cho gia đình anh Mai Văn N các đồ vật, tài sản sau:
- - 01 sợi dây chuyền màu vàng, chiều dài 47cm, ở đầu chốt dây chuyền có ghi ký hiệu: LH* TBT;
- - 01 sợi dây chuyền màu vàng, chiều dài 49cm, ở đầu chốt dây chuyền có ghi chữ MẠNH, phía ngoài dây truyền có 01 khối hình cầu rỗng màu vàng;
- - 01 đôi khuyên tai màu vàng có chiều dài 1,8cm, chỗ rộng nhất đường kính 0,9cm, bên trên khuyên tai có ký hiệuTN*IBJ;
- - 01 vỏ hộp điện thoại bằng giấy, bên trong có dòng chữ SAM SUNG A11, kích thước (17x 9x5)cm, đã qua sử dụng;
- - 01 hộp nhựa hình khối trụ màu đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN THỊNH * XÓM 7-NGA LIÊN- NGA SƠN đường kính 06cm, cao 3,8cm, đã qua sử dụng;
- - 01 hộp nhựa, hình khối trụ mà đỏ, bên ngoài có dòng chữ VÀNG BẠC TIẾN MẠNH * XÓM 7 -NGA LIÊN - NGA SƠN, đường kính 3,5cm, cao 2cm, đã qua sử dụng;
- - 01 két kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp loại 01 cánh đứng, khoá mật mã cơ xoay, 02 chốt, size: 50, số seri: 26709, kích thước bao (83x 52x36)cm bị hư hỏng, cong vênh phần mặt trước cánh cửa, két đã qua sử dụng;
- - 01 thanh kim loại màu xám, trên thân có các đường gân song song, dài 81cm, đường kính phi 18, một đầu dẹp 08cm, hai mặt bám dính chất màu xanh. Một đầu cong dài 7cm, phần đầu dẹt rộng 3cm, xẻ rãnh ở giữa, bám dính chất màu xanh, đã qua sử dụng;
- - 01 kìm cộng lực dài 92cm, tay cầm bằng nhựa, màu hồng có chữ “KTN” phần lưỡi có số “36-900”, đã qua sử dụng.
- + Toàn bộ vật chứng sau được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật gồm: 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay, bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 quần dài bằng vải, màu tím đã qua sử dụng.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 35/CT-VKSNS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 65 BLHS; khoản 4 Điều 328 BLTTHS: Xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Về trách nhiệm dân sự: Anh N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay, bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 quần dài bằng vải, màu tím đã qua sử dụng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, về mức hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là anh Phạm Quang S cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo dùng xe để đi trộm cắp tài sản nhà anh N và đã nhận lại xe.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Khoảng 01 giờ ngày 09/8/2024, Phạm Văn D đã có hành vi lén lút đột nhập vào gia đình anh Mai Văn N trú tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp số tài sản gồm: 02 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai bằng vàng, 01 kìm cộng lực, 01 xà cầy, tổng thiệt hại trị giá 63.820.000đ (sáu mươi ba triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
Do vậy, bị cáo D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Đây là vụ án Trộm cắp tài sản do một mình bị cáo Phạm Văn D thực hiện, do muốn có được tiền không phải bằng sức lao động lương thiện, để tiêu xài cho bản thân nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nhất là loại tội phạm trộm cắp nên hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra; tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 65 BLHS phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Bị cáo đang bị tạm giam, do đó cần áp dụng khoản 4 Điều 328 BLTTHS để trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, tài sản đã được thu hồi trả cho gia đình anh Mai Văn N, anh N đã nhận lại đầy đủ tài sản (02 dây truyền vàng, 01 đôi hoa tai bằng vàng, kìm cộng lực, xà cầy), anh N không yêu cầu D phải bồi thường gì thêm, nên miễn xét.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay, bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 quần dài bằng vải, màu tím đã qua sử dụng; là vật chứng của vụ án, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi dùng xà cầy cậy két sắt để trộm cắp tài sản của D không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” do tài sản két sắt bị hư hỏng trị giá 100.000 đồng, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức phạt tiền, là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS; khoản 4 Điều 328 BLTTHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.
Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, bằng vải màu xanh đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay, bằng vải màu xám đã qua sử dụng; 01 quần dài bằng vải, màu tím đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 36/2024/HSST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 36/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn D bị xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản: theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS
