Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 36/2024/HSST

Ngày 03/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Ký; 2. Ông Nguyễn Kim Sơn

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hàn Văn Vinh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19, 20 và ngày 25/11/2024 và ngày 03/12/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/HSST ngày 27/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/HSST ngày 12/07/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/HSST ngày 09/08/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/HSST ngày 09/09/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/HSST ngày 07/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2024/HSST ngày 05/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Hồ Công T; Sinh ngày: 09/02/1980 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Hồ Công T1 và bà: Trương Thị A; Có vợ là: Lê Thị H và có một con sinh năm 2004.
  2. Tiền án; Tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Tại Bản án số 06/2005/HSST ngày 21/4/2005 của Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Năm 2011 bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 60 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" tại Bản án số 16/2011/HSST ngày 06/7/2011; Năm 2015 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 42 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 07/2015/HSST ngày 25/06/2015.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023. Sau đó, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Hồ Công Thức; Sinh ngày: 01/01/1975 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông: Hồ Công L (Đã chết) và bà: Lê Thị X; Có vợ là: Trương Thị L1 và có hai con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000.
  4. Tiền án: Đã 01 lần bị kết án chưa được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số 17/2021/HSST ngày 28/10/2021 của Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị cáo 13 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Đình C; Sinh ngày: 09/4/1994 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Đình L2 và bà: Hồ Thị T2; Có vợ là: Hà Thị H1 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 12 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" tại Bản án số 06/2012/HSST ngày 18/6/2012; Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị can 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 04/2018/HSST ngày 16/3/2018.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  6. Bùi Trung S; Sinh ngày: 12/10/1981 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Bùi Trung N và bà: Lê Thị K (đều đã chết); Có vợ là: Phạm Thị X1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị can 12 tháng tù về tội "Cướp tài sản" tại Bản án số 105/HSST ngày 02/8/1999.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  7. Lê Văn C2; Sinh ngày: 19/5/1978 tại tuyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông: Lê Văn K1 (đã chết) và bà: Lê Thị M (đã chết); Có vợ là: Bùi Thị H2 (đã ly hôn và có hai con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018.
  8. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  9. Trương Công H3; Sinh ngày: 11/5/1981 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trương Công D (đã chết) và bà: Quách Thị Á (đã chết); Có vợ là: Vũ Thị Q và bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  11. Hồ Công D1; Sinh ngày: 20/10/1983 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hồ Công T1 và bà: Trương Thị A; Có vợ là: Quách Thị T3 và có hai con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;
  12. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  13. Lê Văn T4; Sinh ngày: 02/01/1997 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Lê Văn N1 và bà: Lê Thị M1 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  14. Lê Đình Q1; Sinh ngày: 09/4/2006 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Đình Đ và bà: Lương Thị N2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến ngày 25/6/2023, sau đó được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh và đến ngày 22/7/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Lê Thị P; Sinh năm: 1986; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
  2. Ông Lê Văn K1; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lê Văn K1: Anh Lê Văn D2; Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình Q1: Ông Lê Thanh T5 – Luật sư, thuộc đoàn luật sư tỉnh T (Có mặt) và Ông Hoàng Đức H4 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Anh H5; Sinh năm: 2008. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Khắc T6; Sinh năm: 1986; (Có mặt)
  2. Chị Quách Thị H6; Sinh năm: 1987; (Có mặt)
  3. Chị Bùi Thị H2; Sinh năm: 1990; (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 04/4/2023, Nguyễn Đình C, sinh năm 1994 ở thôn Đ, xã X, huyện N; Hồ Công T, sinh năm 1980, Hồ Công T7, sinh năm 1975 cùng ở thôn X, xã X, huyện N và Lê Văn C2, sinh năm 1978 ở khu phố C, thị trấn Y, huyện N cùng nhau đi hát karaoke tại quán K2 ở Khu phố T, thị trấn Y, huyện N. Quá trình hát karaoke giữa Hồ Công T và Lê Văn C2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc T7 dùng tay đấm vào trán của Lê Văn C2 một cái làm rách da, chảy máu. Sau đó, được can ngăn, Lê Văn C2 bỏ đi về, còn Hồ Công T, Hồ Công T7, Nguyễn Đình C đi về xã X, huyện N để uống rượu.

Sau đó, do còn bực tức với nhau nên Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại Lê Văn C2 hẹn chiều cùng ngày sẽ lên nhà nói chuyện. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, không thấy Nguyễn Đình C đến nên Lê Văn C2 gọi điện thoại lại cho Nguyễn Đình C thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, thách thức hẹn đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Đình C đang chơi, uống rượu tại đám cưới ở thôn P, xã X, huyện N cùng với nhóm Hồ Công T, Hồ Công T7, Trương Công H3, Hồ Công D1, cùng ở thôn X, huyện N và Bùi Trung S ở khu phố T, thị trấn Y huyện N nên đã rủ Trương Công H3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A - 078.58 chở C và Bùi Trung S đi cùng lên nhà Lê Văn C2 để giải quyết mâu thuẫn với Lê Văn C2, đồng thời gọi H7 Công Thức nói là “Thằng C2 hắn gọi hẹn lên ngã ba dốc T8”, nên T7 đã rủ Hồ Công T và Hồ Công D1 đi cùng bằng xe ôtô biển kiểm soát 36A – 852.77 của D1 cùng đi lên nhà Lê Văn C2.

Về phía Lê Văn C2, sau khi gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau với Nguyễn Đình C đã chủ động chuẩn bị sẵn 01 con dao phát cỏ dài 101cm, có lưỡi dao bằng kim loại, sắc, cán bằng tre để sẵn sàng đánh nhau với nhóm của Nguyễn Đình C. Cùng lúc này, Lê Anh H5, sinh ngày 15/12/2008 (con trai của Lê Văn C2) nghe C2 nói chuyện điện thoại, biết sắp có đánh nhau nên đã gọi điện thoại rủ Lê Văn T4, sinh năm 1997; Lê Đình Q1, sinh ngày 09/4/2006 cùng ở cùng khu phố C, thị trấn Y đến nhà để chuẩn bị đánh nhau với nhóm của Nguyễn Đình C. Sau khi tập trung tại nhà Lê Văn C2 thì H5, Q1, T4 cùng nhau chuẩn bị sẵn 01 chai thủy tinh (dạng vỏ chai bia) đựng xăng, dùng giẻ nút chai lại để tạo thành bom xăng, H5 lấy ra 02 đoạn tuýp sắt để sẵn trước ngõ nhà.

Một lúc sau, nhóm của Nguyễn Đình C đi trên 02 xe ôtô đến, xe của D1 đến trước, dừng trên đường H, trước ngõ nhà Lê Văn C2 thì T7 hạ kính xe, nói chuyện, rủ Lê Văn C2 đi uống rượu để giải hòa nhưng C2 không đi, hai bên nói qua lại với nhau mấy câu, sau đó T7, T4, D1 xuống xe đứng gần ngõ nhà C2. Vừa lúc này, xe ô tô của H3 cũng đến và dừng lại, cả bọn xuống xe, đứng trước ngõ N thì bị Q1 ở phía trong ngõ đốt bom xăng tự chế trước đó ném ra nhưng giẻ nút chai bị rơi ra nên không cháy, chai xăng vỡ ra, mãnh thủy tinh vỡ văng trúng vào chân T4. Bị ném, nhóm của Nguyễn Đình C lao vào trong ngõ đánh Lê Văn C2; còn Lê Văn C2 cũng lùi lại lấy dao đã chuẩn bị sẵn, đánh trả nhóm của Nguyễn Đình C, trong lúc đánh nhau, Lê Văn C2 nhận ra Bùi Trung S nên chửi S thì S không xông vào nữa, lùi ra ngoài bị trượt chân ngã xuống mương thoát nước ven đường H, tiếp tục nhặt đá ném về phía Lê Văn C2. Ở phía trong ngõ, do thấy Lê Văn C2 dùng dao dài lia qua, lia lại nên nhóm của Nguyễn Đình C lùi ra phía ngoài đường, mở cốp xe để cả bọn lấy kiếm, tuýp sắt đã chuẩn bị từ trước xông vào đánh nhau tiếp với Lê Văn C2. Ngay lúc này, ông Lê Văn K1 (bố đẻ Lê Văn C2) thấy có đánh nhau nên đội đèn pin, chống gậy đi từ trong nhà ra đứng gần vị trí gốc cây sung đầu ngõ nói “Bay đánh nhau ở đâu thì đánh, không được đánh nhà tao, tao chém chết” thì bị Hồ Công T lao lại dùng kiếm chém và một người nữa dùng tuýp sắt đánh ông K1 nằm gục tại gốc cây sung. Thấy ông K1 bị đánh thì Lê Văn C2 tiếp tục cầm dao lao vào đánh nhau với nhóm Hồ Công T, Nguyễn Đình C, T7, H3, D1 làm T rơi kiếm (mã tấu) ra trong ngõ, hai bên đánh nhau qua lại lộn xộn, dẫn đến H3 và D1 bị thương nên chạy quay ra ngoài. Bên trong ngõ chỉ còn Hồ Công T, T7 và Nguyễn Đình C đánh nhau với Lê Văn C2, quá trình đánh nhau Hồ Công T bị ngã ra thì H5 và Q1 cầm gậy tuýp lao lại đánh vào lưng Hồ Công T, sau đó ném luôn tuýp lại chạy vào bên trong, cùng với Lê Văn T4 ở phía trong gốc cây xoài nhặt gạch, đá ném về phía nhóm của Nguyễn Đình C. Hồ Công T bị đánh ngã, sau đó đứng dậy và ôm được Lê Văn C2 từ phía sau để T7 và Nguyễn Đình C cầm tuýp sắt lao vào đánh Lê Văn C2 tiếp nhưng Lê Văn C2 vùng vằng, thoát ra được thì Hồ Công T cầm tuýp sắt mà Q1 và H5 bỏ lại, cùng với T7, Nguyễn Đình C chạy ra phía ngoài đường H. Lúc này, thấy chị Lê Thị P là hàng xóm nhà Lê Văn C2 chạy từ nhà ra hô “cướp, cướp” thì Hồ Công T cầm tuýp sắt vụt một cái vào đùi và chửi "Địt mẹ mi cướp à". Bị đánh, chị P bỏ chạy vào phía trong ngõ, đứng cạnh vị trí gốc cây xoài, rồi tiếp tục hô to "có người đánh nhau ở dưới dốc trầu" nhưng nhóm Nguyễn Đình C, Hồ Công T7, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3, Bùi Trung S vẫn tiếp tục nhặt gạch đá ném vào trong ngõ nhà Lê Văn C2, còn ở phía trong ngõ thì có Lê Văn T4, Lê Anh H5, Lê Đình Q1 và Lê Văn C2 cũng nhặt gạch, đá ném ra phía ngoài đường, hai bên ném qua ném lại khoảng 2 - 3 phút thì nhóm của T4 lên xe bỏ đi về hướng dốc Trầu. Lúc này, những người đang đứng trong ngõ nhà C2 mới chạy ra bế ông K1 vào nhà và đưa đi cấp cứu, điều trị thương tích.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Đình C, Hồ Công T, Hồ Công T7, Trương Công H3, Hồ Công D1 không thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm, khai báo quanh co về diễn biến vụ việc; còn các bị cáo Lê Văn C2, Lê Đình Q1, Bùi Trung S, Lê Văn T4 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân, các bị cáo khác trong vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo Trương Công H3, Hồ Công D1 đã thay đổi lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Đình C, Hồ Công T, Hồ Công T7 chỉ thừa nhận hành vi gây rối trật tự công cộng mà cho rằng không phạm tội cố ý gây thương tích. Riêng Hồ Công T thừa nhận phạm tội gây rối trật tự công cộng và gây thương tích nhưng ở khoản 2 điều 134 BLHS (Tức là chỉ gây thương tích cho Lê Văn C2) mà không phạm tội gây thương tích ở khoản 3 Điều 134 BLHS (tức là không gây thương tích cho ông K1) như Cáo trạng của VKSND huyện Như Xuân đã truy tố.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y về thương tích, vật gây thương tích đối với ông Lê Văn K1, Lê Văn C2, chị Lê Thị P, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3; trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử, giám định đường vân, ADN trên vật chứng thu giữ. Kết quả giám định xác định:

* Đối với ông Lê Văn K1:

Tại bản kết luận giám định số 808/KLTTCT-PYTH ngày 20/6/2023 của Trung tâm P xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn K1 tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm);

Tại bản kết luận giám định số 809/KLVGTT-PYTH ngày 20/6/2023 của Trung tâm P, xác định:

  • Mặt ngoài trên ngón trỏ bàn tay phải có vết rách da, chảy máu, không rõ hình, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Tại vùng mu bàn tay phải có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Tại mặt ngoài sau cẳng tay bên trái cách khuỷu tay trái 04 cm có vết rách da, chảy máu, không rõ hình, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Tại mặt ngoài sau cánh tay dưới bên trái, ngay sát khuỷu tay trái có vết rách da, chảy máu, không rõ hình, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Vùng lòng bàn tay trái có vết xây xước da, tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Tại mặt ngoài dưới cổ tay trái có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Tại mặt ngoài sau cánh tay trên bên trái, ngay sát nách trái có vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
  • Chấn thương vùng mạn sườn bên phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích./.

* Đối với Lê Văn C2:

Tại bản kết luận giám định số: 583/KLTTCT-PYTH ngày 18/5/2023 của Trung tâm P xác định:

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn C2 tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm).

Vật gây thương tích trên thân thể của Lê Văn C2, sinh năm 1978, ở Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa:

  • Vùng chính giữa đỉnh đầu có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng giữa đỉnh đầu.
  • Vùng đỉnh đầu bên phải có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng giữa đỉnh đầu.
  • Vùng đỉnh trán có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng chân tóc giữa trán.
  • Vùng đầu ngay trên tai phải có vết xây xước da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh phải (ngay phía trên tai phải).
  • Mặt ngoài phía trên vành tai trái có vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và xung huyết, xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Mặt ngoài trên ngay tại đốt thứ 2, ngón tay trỏ, bàn tay phải có vết rách da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mu đốt 2 ngón II bàn tay phải.
  • Mặt ngoài cánh tay trái ngay dưới vai trái có vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và xung huyết, xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng mặt ngoài 1/3 trên mặt sau ngoài cánh tay trái (ngay dưới vai trái).
  • Vùng bụng bên trái có vết xây xước da, sưng tấy: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật tày có cạnh sắc, hoặc vật tày có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và và xung huyết, xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vắt ngang thành bụng bên trái.
  • Vùng lưng bên trái có vết xây xước da, sưng tấy: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và xung huyết, xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng lưng (ngang mức thắt lưng) bên trái.
  • Vùng lưng bên trái có vết xây xước da, bầm tụ máu, bề mặt vết thương nham nhở: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và xung huyết, xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng lưng bên trái (ngang mức trên cánh chậu trái).
  • Mặt ngoài mắt cá chân trái, phía trên má trong chân trái có vết rách da, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng 1/3 dưới cẳng chân trái (ngay phía trên mắt cá trong chân trái).
  • Mặt ngoài 1/2 cẳng chân trái có vết rách da, chảy máu. Tổ chức da, cơ xung quanh thâm sưng, phù nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng 1/3 giữa cẳng chân trái.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích./.

* Đối với Hồ Công T:

Tại bản kết luận giám định số: 655/KLTTCT - PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Công T tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định số 658/KLVGTT – PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P xác định:

  • Tại vùng má trái, cánh mũi trái, đuôi mắt trái có các vết xây xước da, thâm sưng, phù nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại không còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu ngoài cung lông mày trái.
  • Tại vùng trán phải, ngay trên lông mày phải có các vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại không còn di chứng sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Tại vùng gáy có các vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng gáy cổ (vùng cổ phía sau).
  • Tại vùng lưng ngay giữa sống lưng có các vết xây xước da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng cột sống lưng lệch phải.
  • Tại mặt ngoài cẳng tay dưới bên trái có các vết thâm sưng, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Mặt ngoài đầu gối phải có các vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Vùng má trong chân phải có các vết thâm sưng, phù nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng bờ trong ô mô cái bàn chân phải.
  • Tại vùng 1/2 đùi trái có các vết thâm sưng, phù nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Tại mặt ngoài trước cẳng chân trái ngay dưới gối trái có các vết xây xước da, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng 1/3 trên mặt trước trong cẳng chân trái.
  • Tại mặt ngoài trên đầu ngón tay giữa và ngón áp út có các vết xây xước da, bầm tụ máu (Bàn tay trái): Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da và tổn thương móng ngón IV bàn tay trái; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mu đốt 2 ngón III bàn tay trái và cụt, rụng móng ngón IV bàn tay trái.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích./.

* Đối với Hồ Công D1

Tại bản kết luận giám định số: 656/KLTTCT-PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Công D1 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định số: 659/KLVGTT – PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P xác định:

  • Tại mặt ngoài trên ngón tay cái bàn tay phải có vết rách da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng dọc mặt mu ngón cái (ngón I) bàn tay phải.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

* Đối với Trương Công H3:

Tại bản kết luận giám định số 657/KLTTCT-PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Công H3 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Tại bản Kết luận giám định số 660/KLVGTT – PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P, xác định:

  • Vết thương vùng cẳng tay dưới tay trái, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

* Đối với Lê Thị P.

Tại bản kết luận giám định số 582/KLTTCT-PYTH ngày 15/4/2023 của Trung tâm P, xác định:

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị P tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

- Về vật gây thương tích:

  • Mặt ngoài trước 1/2 đùi phải có vết sưng phù nề, bầm tụ máu: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng mặt ngoài 1/2 trên đùi phải.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

* Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử:

Tại Bản Kết luận giám định số 3190/KL – KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định: Không tìm thấy dữ liệu trong khoảng thời gian từ 10 giờ 00 phút ngày 04/4/2023 đến 23 giờ 00 phút ngày 04/4/2023 (Theo thời gian hiển thị trên màn hình) của 01 (một) đầu ghi gửi giám định.

* Kết quả giám định dấu vết đường vân:

Tại Bản kết luận giám định số 2061/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định: Phát hiện được các đấu vết đường vân không đủ yếu tố giám định trên kiếm bằng kim loại nêu ở mục II. 1.1: trong kết luận giám định “ 01 kiếm bằng kim loại màu sáng bạc, dài khoảng 62cm, phần lưỡi kiếm dài 44cm. Lưỡi kiếm chỗ rộng nhất 07 cm, chỗ hẹp nhất 04 cm”.

* Kết quả giám định ADN

Tại Bản kết luận giám định số 2195/KL – KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T xác định:

  1. 01 con dao dài 101 cm, 01 kiếm dài 62 cm gửi đến giám định đều có ADN người. Do lượng ADN ít và lẫn nên không xác định được kiểu gen (AND).
  2. Lưu kiểu gen (AND) (theo hệ Globalfiler) của Lê Văn K1 tại Phòng K3 Công an tỉnh T.

Quá trình điều tra xác định, sự việc nêu trên xảy ra trong khoảng thời gian 10 phút tại khu vực trên đường và hành lang đường H trước ngõ vào nhà ông Lê Văn K1, nơi có nhiều hộ dân sinh sống (khu vực công cộng), hành vi dùng hung khí nguy hiểm, lùa đuổi, đánh nhau gây thương tích của các đối tượng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự và an toàn nơi công cộng, phá vỡ trật tự kỷ cương, an toàn xã hội và việc thực hiện chính sách pháp luật tại địa phương.

Kết quả xác minh về tuổi, nhân thân, lý lịch xác định:

Thời điểm xảy ra sự việc, các bị cáo Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Hồ Công T, Hồ Công D1, Bùi Trung S, Trương Công H3, Lê Văn C2, Lê Đình Q1 đều đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo Lê Đình Q1 là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Lê Anh H5 chưa đủ 16 tuổi.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thu giữ :

  • 01 xe ô tô Biển kiểm soát 36A - 852.77 nhãn hiệu HUYNDAI màu trắng, số loại: ELANTRA CN7 1.6MPI 6AT GL; số khung: RLULM41BBNT001779; Số máy G4FGNU00577.
  • 01 xe ô tô BKS: 36A - 07858 nhãn hiệu KIA, loại xe KIA FORTE màu trắng; Số khung: RNYTD41A6BC014; Số máy G4FCAH265985.
  • 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước ( 6 x 10) cm.
  • 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước (9,5 x 14)cm
  • 01 đôi dép màu xanh đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 27) cm.
  • 01 đôi dép màu trắng đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 25) cm.
  • 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (10 x 15) cm.
  • 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 19) cm.
  • 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 43) cm.
  • 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (9 x 23) cm.
  • 01 mảnh nhựa vỡ, màu xanh (vỏ đèn pin).
  • Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu.
  • 01 dao bằng kim loại (dạng dao phát cỏ) toàn bộ thân dao và cán dao dài 101 cm. Phần cán dao bằng gỗ (tre) dài 60 cm, phần lưỡi dao dài 31 cm, mũi dao vát chéo, nhọn, lưỡi dao sắc. Lưỡi dao chỗ rộng nhất 06 cm, hẹp nhất 04 cm. Phần chuôi dao bọc cán dao bằng kim loại dài 10 cm.
  • 01 kiếm bằng kim loại (dạng mã tấu) màu sáng bạc, dài 62 cm, phần lưỡi kiếm dài 45 cm, cán kiếm dài 17 cm. Lưỡi kiếm chỗ rộng nhất 07 cm, chỗ hẹp nhất 04 cm, lưỡi kiếm cong, sắc, mũi kiếm nhọn, trên lưỡi kiếm bị sứt mẻ ở một số vị trí.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô BKS: 36A – 852.77 là tài sản của chị Hồ Thị N3, sinh năm 1986 ở thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là em gái của bị can Hồ Công D1) và chiếc xe ô tô BKS: 36A – 07858 là tài sản của chị Vũ Thị Q, sinh năm 1984 ở thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vợ Trương Công H3). Những người này không biết việc D1 và H3 sử dụng phương tiện của họ để đi đánh nhau nên không có lỗi. Xét thấy việc trả lại phương tiện trên không ảnh hưởng đến quá trình xác minh, điều tra truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trả lại phương tiện cho chủ sỡ hữu.

Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản, chở xử lý theo quy định.

Về dân sự: Quá trình điều tra, người đại diện của bị hại Lê Văn K1 yêu cầu người đã gây thương tích cho ông K1 bồi thường số tiền 400.000.000 đồng; Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1, Lê Văn C2 chưa có yêu cầu bồi thường, các bên cũng chưa có thỏa thuận gì về vấn đề này. Đối với bị hại Lê Thị P trong quá trình điều tra Hồ Công T đã bồi thường cho chị Lê Thị P số tiền 3.000.000 đồng, chị P không có yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Trước khi xét xử, bị cáo Hồ Công D1, Trương Công H3 đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo 20.000.000đ, bị cáo Bùi Trung S nộp 10.000.000đ và bị cáo Lê Đình Q1 nộp 3.000.000đ tại Cơ quan THADS huyện để khắc phục hậu quả gây ra.

Tại bản Cáo trạng số: 21 /CT-VKSNX ngày 31/05/2024 của Viện trưởng VKSND huyện Như Xuân, Thanh Hóa truy tố các bị cáo: Hồ Công T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo: Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn C2, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Hồ Công T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Nguyễn Đình C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 04 năm đến 05 năm tù..
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Hồ Công Thức từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Bùi Trung S từ 15 tháng đến 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích; từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 30 tháng đến 36 tháng tù.2- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Lê Văn C2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt Lê Văn T4 từ từ 15 tháng đến 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích; từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65, Điều 90, Điều 91, 101, 103 BLHS đề nghị phạt Lê Đình Q1 từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 20 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 đến 48 tháng.

Về phần bồi thường trách nhiệm dân sự: Hiện ông Lê Văn K1 đã chết, người đại diện của ông K1 đề nghị người gây thương tích cho ông K1 phải bồi thường chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc số tiền 400.000.000 đồng. Xét yêu cầu của người đại diện của ông K1 thấy rằng các khoản yêu cầu được chấp nhận cụ thể như sau:

  • Chi phí cấp cứu, điều trị thương tích: 86.324.000 đồng.
  • Tiền xe 7.800.000 đồng;
  • Tiền thuốc men, bồi bổ: 31.800.000 đồng;
  • Chi phí, thu nhập người chăm sóc bị mất: 02 người x 45 ngày x 600.000 đồng = 54.000.000 đồng;
  • Tổn thất tinh thần tương đương 45 tháng lương tối thiểu = 105.300.000 đồng.

Tổng chi phí được chấp nhận là 285.224.000 đồng.

Gia đình ông K1 đã nhận được 40.000.000 đồng, Bùi Trung S, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Lê Đình Q1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông K1 số tiền 53.000.000 đồng (Đã nộp tại Chi cục THADS) nên Hồ Công T còn phải tiếp tục bồi thường 192.224.000 đồng

Đối với thương tích của Hồ Công T, Lê Văn C2, Hồ Công D1, Trương Công H3 các bên chưa có yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với: 02 (hai) mảnh gạch nung màu vàng – đỏ; 02 (hai) đôi dép; 01(một ) đôi dép màu trắng đen; 04 (bốn) mảnh gạch bê tông bị vỡ; 01 (một) mảnh nhựa vỡ, màu xanh (vỏ đèn pin); Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu; 01 (một) dao bằng kim loại (dạng dao phát cỏ); 01 (một) kiếm bằng kim loại (dạng mã tấu) màu sáng bạc.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình Q1 là Luật sư Lê Thanh T5 nêu quan điểm: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lê Đình Q1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo Lê Đình Q1 một phần hình phạt; Xem xét miễn trách nhiệm hình sự đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”, đồng thời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành người công dân tốt; Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Đình Q1.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình Q1 là Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Đức H4 nêu quan điểm: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lê Đình Q1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101, Điều 65, khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 318, Điều 55 BLHS 2015 quyết định hình phạt ở dưới mức thấp nhất khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 và điểm b, khoản 2 Điều 318 BLHS 2015, cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phần tranh luận các bị cáo Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn C2, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1 thống nhất với quan điểm của Đại diện VKSND huyện Như Xuân, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo Hồ Công T thừa nhận hành vi gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích cho bị cáo Lê Văn C2, không thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông K1. Các bị cáo Nguyễn Đình C, Hồ Công T7 chỉ thừa nhận hành vi gây rối trật tự công cộng, không thừa nhận hành vi gây thương tích.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của các bị cáo thấy rằng:

Tại phiên tòa hôm nay, Tất cả các bị cáo đều thừa nhận có mặt tại nơi xảy ra vụ việc là khu vực nhà bị cáo Lê Văn C2. Trong đó có các bị cáo Hồ Công T, Bùi Trung S, Lê Văn C2, Lê Văn T4, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Lê Đình Q1 thừa nhận bản thân có tham gia vào quá trình đánh nhau gây thương tích và gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Hồ Công T không thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông Lê Văn K1. Các bị cáo Nguyễn Đình C và Hồ Công T7 chỉ thừa nhận đến để gặp bị cáo Lê Văn C2 nói chuyện xin lỗi, không thừa nhận lên nhà bị cáo Lê Văn C2 để đánh nhau và bản thân không tham gia đánh nhau gây thương tích nhưng thừa nhận tham gia gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Nguyễn Đình C không thừa nhận tội gây thương tích nhưng thừa nhận khi bị ném bom xăng và gạch đá cũng đã nhặt gạch đá ném lại 3 đến 4 lần nhóm người phía trong. Ban đầu các bị cáo Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S cũng không thừa nhận tham gia đánh nhau gây thương tích. Tuy nhiên, quá trình xét hỏi và đấu tranh tại phiên tòa các bị cáo Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S đã thành khẩn khai nhận hành vi dùng tay đánh nhau, dùng gạch ném về phía nhóm bị cáo Lê Văn C2. Bị cáo Bùi Trung S lúc đầu khai báo chưa đầy đủ nhưng sau đó cũng đã thừa nhận lời khai tại cơ quan điều tra là đúng sự thật.

Đối với hành vi của bị cáo Hồ Công T chỉ thừa nhận khi bị đánh bằng túyp sắt thì giật túyp sắt đánh lại, sau đó thì thấy có người phụ nữ là chị P vừa đi vừa hô “Cướp cướp” nên đã dùng tuýp sắt đánh chị P một cái vào chân. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo Lê Văn C2, bị cáo Lê Đình Q1, bị cáo Lê Văn T4, bị hại Chị Lê Thị P, ông Lê Văn K1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn H8 và người làm chứng anh Nguyễn Khắc T9, chị Quách Thị H6 cùng với dấu vết thương tích trên cơ thể ông Lê Văn K1, vật chứng vụ án đã thu giữ được, hiện trường vụ án, kết quả thực nghiệm điều tra, kết quả nhận dạng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Hồ Công T là người dùng kiếm gây thương tích cho ông K1. Lời khai của những người nói trên còn thể hiện ngoài bị cáo Hồ Công T còn có một số người khác gây thương tích cho ông K1. Tuy nhiên, các lời khai này chưa đủ cơ sở xác định chính xác những người khác tham gia gây thương tích cho ông K1 là ai. Do đó, để đảm bảo xử lý nhanh chóng và bồi thường kịp thời đầy đủ cho gia đình người bị hại, Cáo trạng truy tố và xác định bị cáo Hồ Công T phải chịu trách nhiệm độc lập và toàn bộ đối với thương thích của ông K1 là phù hợp. Đồng thời, buộc Hồ Công T phải chịu trách nhiệm bồi thường thương tích cho ông K1 trước và giành quyền cho bị cáo khởi kiện yêu cầu những người khác liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho ông K1 khi có đủ chứng cứ có người khác gây thương tích cho ông K1.

Đối với bị cáo Nguyễn Đình C và Hồ Công T7 khai không xông vào phía trong để đánh nhau, không thừa nhận gây thương tích cho ai. Lời khai của bị cáo không phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên không được chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Đình C thừa nhận có cầm gạch đá ném vào phía trong 3 đến 4 lần cũng đủ cơ sở kết luận bị cáo đồng phạm với hành vi gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích của các bị cáo khác trong vụ án.

Ngoài ra, Tại phần xét hỏi các bị cáo Lê Văn C2; Lê Đình Q1, Lê Văn T4 hoàn toàn thừa nhận hành vi đánh nhau và gây rối trật tự công cộng của bản thân. Về nguyên nhân dẫn đến sự việc đánh nhau, Bị cáo Lê Văn C2 xác định là do mâu thuẫn từ trước với nhóm của bị cáo ở N. Bị cáo Lê Văn C2 thừa nhận có gọi điện thách thức đánh nhau 3 lần. Tình tiết này phù hợp với lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn H8 và người làm chứng anh Nguyễn Khắc T9, chị Quách Thị H6 chứng kiến. Nên lời khai của các bị cáo Lê Văn C2; Lê Đình Q1, Lê Văn T4, người bị hại ông Lê Văn K1, chị P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn H8, người làm chứng anh Nguyễn Khắc T6, chị Quách Thị H6 được sử dụng để xác định sự thật khách quan của vụ án.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Lê Văn C2 với Nguyễn Đình C, Hồ Công T7 và Hồ Công T nên tối ngày 04/4/2023 giữa Lê Văn C2 và Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đình Ccùng với Hồ Công T7, Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S đi trên 02 xe ôtô đem theo hung khí kiếm, tuýp sắt đến khu vực đường H ở trước ngõ N thuộc khu phố C, thị trấn Y, huyện N; còn Lê Văn C2 cũng cùng với Lê Anh H5, Lê Đình Q1, Lê Văn T4 chuẩn bị sẵn bom xăng tự chế, gậy tuýp sắt, dao để đánh nhau. Khi thấy nhóm của Nguyễn Đình C đến, Lê Đình Q1 dùng bom xăng tự chế ném từ trong ngõ ra đường H nhưng chai bom xăng không cháy nổ, sau đó hai bên dùng hung khí xông vào đánh nhau. Quá trình xô xát, đánh nhau, các đối tượng đã hò hét, cầm gạch đá, gậy sắt, kiếm, dao để ném, đuổi đánh nhau trong khoảng thời gian 10 phút, làm Lê Văn C2 bị thương, tổn hại sức khỏe 13%, Hồ Công T bị thương, tổn hại sức khỏe 12%, Hồ Công D1 bị thương, tổn hại sức khỏe 2%, Trương Công H3 bị thương, tổn hại sức khỏe 2%; ông Lê Văn K1 (bố Lê Văn C2) thấy có đánh nhau, đi từ trong nhà ra thì bị Hồ Công T và 01 người (không xác định được) dùng kiếm, tuýp sắt đánh bị thương tích, tổn hại sức khỏe 37%; chị Lê Thị P là hàng xóm nhà ông Kết từ trong nhà đi ra cũng bị Hồ Công T dùng tuýp sắt đánh gây thương tích, tổn hại sức khỏe 01%.

Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kiếm, gạch, đá, bom xăng tự chế, tuýp sắt để đánh nhau, gây thương tích giữa nhóm của Nguyễn Đình C, Hồ Công T7, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3, Bùi Trung S và nhóm của Lê Văn C2, Lê Văn T4, Lê Đình Q1, Lê Anh H5. Trong đó bị cáo Hồ Công T là người trực tiếp gây ra thương tích cho ông Lê Văn K1 và chị Lê Thị P nên phải chịu trách nhiệm độc lập đối với thương tích của ông Lê Văn K1 và chị Lê Thị P.

Hành vi lùa đuổi, hò hét, sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kiếm, tuýp sắt, gạch, đá, bom xăng tự chế để đánh nhau, gây thương tích cho nhau tại khu vực trên lòng đường và hành lang đường H trong thời gian dài của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, đã phá vỡ trật tự kỷ cương, an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự trên địa bàn và việc thực hiện chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương.

Do đó, hành vi của bị cáo Hồ Công T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn C2, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, Cáo trạng của VKSND huyện Như Xuân đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đã trực tiếp xâm hại tới trật tự công cộng, an toàn xã hội, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống cộng đồng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây mất trật tự an toàn công cộng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nhất là lúc đêm khuya. Hành vi đó còn gây tổn hại về sức khỏe của của người khác. Do vậy, cần thiết phải có hình phạt tương xứng đối với các bị cáo để trừng trị và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[4] Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án hình sự có tính chất đồng phạm giản đơn, giữa 02 nhóm gồm : nhóm bị cáo Nguyễn Đình C, Hồ Công T7, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3, Bùi Trung S và nhóm của Lê Văn C2, Lê Văn T4, Lê Đình Q1, Lê Anh H5. Trong đó các bị cáo đều là những người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T7, Lê Văn C2 là những người thực hiện hành vi phạm tội tích cực hơn nên giữ vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Ngoài ra, bị cáo Hồ Công T là người trực tiếp gây ra thương tích cho ông Lê Văn K1 và chị Lê Thị P nên phải chịu trách nhiệm độc lập đối với thương tích của ông Lê Văn K1 và chị Lê Thị P. Do đó, cần xem xét các vai trò của từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt cho tương xứng với hành vi của từng bị cáo.

  • Đối với bị cáo Hồ Công T: Là người tham gia với vai trò tích cực, gây thương tích cho nhiều người với tỉ lệ thương tích cao nhất nên trong vụ án này bị cáo T giữ vai trò chính và phải chịu trách nhiệm hình sự với hình phạt cho cả hai tội là cao nhất.
  • Đối với bị cáo Lê Văn C2, Nguyễn Đình C và Hồ Công T7: Là những người có mâu thuẫn với nhau từ trước nên đã gọi điện thoại cho nhau thách thức, đồng thời đã rủ rê, lôi kéo những người thân, quen của mình gặp nhau tại khu vực nhà bị cáo Lê Văn C2, sau đó dẫn đến sự việc lùa đuổi, hò hét, sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kiếm, gạch, đá, bom xăng tự chế, tuýp sắt để đánh nhau, gây thương tích cho nhau. Nên trong vụ án này các bị cáo Lê Văn C2, Nguyễn Đình C và Hồ Công T7 giữ vai trò thấp hơn bị cáo Hồ Công T nhưng cao hơn các bị cáo khác còn lại trong vụ án.
  • Đối với bị cáo Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1: Sau khi được rủ rê, lôi kéo vào việc phạm tội, lẽ ra các bị cáo phải bình tĩnh khuyên bảo để tránh việc mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau thì bị các cáo lại hưởng ứng tích cực, cùng tham gia trong việc gây rối trật tự công cộng, dẫn đến gây thương tích cho nhiều người. Trong vụ án này các bị cáo đã nhất thời bị lôi cuốn vào việc phạm tội, dùng gạch đá ném, dao, kiếm, ông tuýt để lao vào hỗn chiến với nhau. Vì vậy, khi lượng hình cần phân hóa rõ hành vi, cũng như nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt phù hợp cho từng bị cáo.

[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy rằng:

  • Đối với bị cáo Hồ Công T và Hồ Công T7: bị cáo Hồ Công T7 đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Hồ Công T có nhân thân xấu, đã 03 lần bị kết án về các tội "Cố ý gây thương tích" và "Trộm cắp tài sản". Lẽ ra, sau những lần phạm tội trước, các bị cáo phải nhận thức được lỗi lầm của mình để cố gắng cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, nhưng các bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, điều đó chứng tỏ sự liều lĩnh cũng như coi thường pháp luật của các bị cáo nên Hội đồng xét xử cần lên cho các bị cáo một mức hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo vẫn cố tình chối tội, không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên không có cơ sở xem xét tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt. Từ sự phân tích, cá thể hóa về nhân thân, trách nhiệm hình sự của bị cáo; căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo là cần thiết.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Đình C và Bùi Trung S: Cả hai đều không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên các bị cáo đều có nhân thân xấu, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Đình C đã 02 lần bị kết án về các tội "Cố ý gây thương tích" và tội "Trộm cắp tài sản"; Bị cáo Bùi Trung S đã 01 lần bị kết án về tội "Cướp tài sản". Lẽ ra, sau những lần phạm tội trước, các bị cáo phải nhận thức được lỗi lầm của mình để cố gắng cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, nhưng các bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, điều đó chứng tỏ sự liều lĩnh cũng như coi thường pháp luật của các bị cáo nên Hội đồng xét xử cần lên cho các bị cáo một mức hình phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Riêng bị cáo Bùi Trung S, tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm cho bị cáo S một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS là phù hợp. Từ sự phân tích, cá thể hóa về nhân thân, trách nhiệm hình sự của bị cáo; căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là cần thiết.
  • Đối với bị cáo Lê Văn C2: Bị cáo có nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: không; quá trình giải quyết vụ án có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo Lê Văn T4 và Lê Đình Q1 tham gia vào việc phạm tội. Do đó, căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là cần thiết.
  • Đối với các bị cáo Trương Công H3, Hồ Công D1 và Lê Văn T4: Các bị cáo nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: không; Tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, trong vụ án này các bị cáo phạm tội với tính chất nghiêm trọng, phạm vào hai tội cùng một lúc. Do đó, căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là cần thiết.
  • Đối với bị cáo Lê Đình Q1: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ thành khẩn khai báo trung thực. Mặt khác, khi phạm tội bị cáo Q1 là người chưa thành niên, khả năng nhận thức còn hạn chế, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt sau này.

Sau khi vụ án xảy ra, các bị cáo Hồ Công T, Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Hồ Công D1 và Trương Công H3 đã cùng nhau góp tiến đến thăm hỏi và bồi thường trực tiếp một phần 40.000.000đ cho gia đình các bị hại. Trước khi xét xử, bị cáo Hồ Công D1, Trương Công H3 đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo 20.000.000đ, bị cáo Bùi Trung S nộp 10.000.000đ và bị cáo Lê Đình Q1 nộp 3.000.000đ tại Cơ quan THADS huyện để khắc phục hậu quả gây ra. Nên HĐXX xét thấy cho các bị cáo nêu trên được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là phù hợp.

Các bị cáo Bùi Trung S, Trương Công H3, Hồ Công D1, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với tính chất hành vi và vai trò đồng phạm thứ yếu của các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án gồm:

  • Đối với: 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước ( 6 x 10)cm; 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước (9,5 x 14)cm; 01 đôi dép màu xanh đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 27)cm; 01 đôi dép màu trắng đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 25)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (10 x 15)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 19)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 43)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (9 x 23)cm; 01 mảnh nhựa vỡ, màu xanh (vỏ đèn pin); Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu; 01 dao bằng kim loại (dạng dao phát cỏ) toàn bộ thân dao và cán dao dài 101 cm. Phần cán dao bằng gỗ (tre) dài 60 cm, phần lưỡi dao dài 31 cm, mũi dao vát chéo, nhọn, lưỡi dao sắc. Lưỡi dao chỗ rộng nhất 06 cm, hẹp nhất 04 cm. Phần chuôi dao bọc cán dao bằng kim loại dài 10 cm; 01 kiếm bằng kim loại (dạng mã tấu) màu sáng bạc, dài 62 cm, phần lưỡi kiếm dài 45 cm, cán kiếm dài 17 cm. Lưỡi kiếm chỗ rộng nhất 07 cm, chỗ hẹp nhất 04 cm, lưỡi kiếm cong, sắc, mũi kiếm nhọn, trên lưỡi kiếm bị sứt mẻ ở một số vị trí.

Đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, các điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS. Các vật chứng trên hiện đang lưu trữ tại kho tang vật của Cơ quan thi hành án dân sự huyện N theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28/2024/TSVC ngày 07/06/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

  • Đối với: 01 chiếc xe ô tô BKS: 36A – 852.77 là tài sản của chị Hồ Thị N3, sinh năm 1986 ở thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là em gái của bị can Hồ Công D1) và 01 chiếc xe ô tô BKS: 36A – 07858 là tài sản của chị Vũ Thị Q, sinh năm 1984 ở thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vợ Trương Công H3). Những người này không biết việc D1 và H3 sử dụng phương tiện của họ để đi đánh nhau nên không có lỗi. Xét thấy việc trả lại phương tiện trên không ảnh hưởng đến quá trình xác minh, điều tra truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trả lại phương tiện cho chủ sỡ hữu là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Văn K1 sau khi điều trị về nhà một thời gian thì đã chết do nguyên nhân khác, người đại diện cho gia đình của ông K1 yêu cầu bồi thường tổng các chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc số tiền 400.000.000 đồng. Xét yêu cầu của người đại diện của ông K1, HĐXX xét thấy các khoản yêu cầu có hóa đơn chứng từ và hợp lý được chấp nhận cụ thể như sau:

  • Chi phí cấp cứu, điều trị thương tích: 86.324.000 đồng.
  • Tiền xe 7.800.000 đồng;
  • Tiền thuốc men, bồi bổ: 31.800.000 đồng;
  • Chi phí, thu nhập người chăm sóc bị mất: 02 người x 45 ngày x 600.000 đồng = 54.000.000 đồng;
  • Tổn thất tinh thần tương đương 45 tháng lương tối thiểu = 105.300.000 đồng.

Tổng chi phí được chấp nhận là 285.224.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng thống nhất chỉ yêu cầu bồi thường số tiền trên.

Do bị cáo Hồ Công T là người phải chịu trách nhiệm cho thương tích của ông K1 nên HĐXX buộc bị cáo Hồ Công T phải bồi thường toàn bộ số tiền 285.224.000 đồng cho đại diện người bị hại. Đến nay, gia đình ông K1 đã nhận được 40.000.000 đồng, Trong thời gian chuẩn bị xét xử các bị cáo Bùi Trung S, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Lê Đình Q1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông K1 số tiền 53.000.000 đồng (Đã nộp tại Chi cục THADS). Do đó, bị cáo Hồ Công T còn phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 192.224.000 đồng.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Hồ Công T, Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn C2, Lê Văn T4 và Lê Đình Q1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm. Đối với bị cáo Lê Đình Q1 lúc phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi, không có công việc và thu nhập ổn định nên HĐXX miễn án phí hình sự cho bị cáo Q1; Các bị cáo, bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công T, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T 5 (Năm) năm về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T phải chấp hành hình phạt chung là 7 (Bảy năm) năm 6 (S1) tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Hồ Công T còn phải chấp hành tiếp 7 (Bảy) năm 01 (Một) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  4. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình C, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình C 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H9) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Nguyễn Đình C còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 7 (Bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  5. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  6. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công T7, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T7 2 (Hai) năm 3 (Ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H9) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T7 phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm 3 tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Hồ Công T7 còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 10 (Mười) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  7. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  8. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trung S, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Trung S 16 (Mười sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 16 (Mười sáu) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Bùi Trung S phải chấp hành hình phạt chung là 32 tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Bùi Trung S còn phải chấp hành tiếp 27 (Hai bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  9. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  10. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C2, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C2 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H9) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn C2 phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Lê Văn C2 còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 7 (Bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  11. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  12. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T4, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T4 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn T4 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 26 ngày. Bị cáo Lê Văn T4 còn phải chấp hành tiếp 25 (Hai lăm) tháng 4 (Bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  13. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  14. Tuyên bố: Bị cáo Trương Công H3, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Trương Công H3 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Trương Công H3 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  15. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.
  16. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công D1, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công D1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Hồ Công D1 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  17. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 103 BLHS.
  18. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình Q1, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Q1 11 (Mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” và 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lê Đình Q1 phải chấp hành hình phạt chung là 21 (Hai mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (Bốn hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Đình Q1 cho UBND thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Gia đình các bị cáo Lê Đình Q1 có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Về Dân sự: Buộc bị cáo Hồ Công T phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại như sau:

  • Chi phí cấp cứu, điều trị thương tích: 86.324.000 đồng.
  • Tiền xe vận chuyển đi về các lần là 7.800.000 đồng;
  • Tiền thuốc men, bồi bổ thêm: 31.800.000 đồng;
  • Chi phí, thu nhập người chăm sóc bị mất: 02 người x 45 ngày x 600.000 đồng = 54.000.000 đồng;
  • Tổn thất tinh thần tương đương 45 tháng lương tối thiểu = 105.300.000 đồng.

Tổng cộng các khoản là 285.224.000 đồng. Hiện đã bồi thường trước 93.000.000đ nên Bị cáo Hồ Công T còn phải tiếp tục bồi thường tiếp 192.224.000 (Một trăm chín hai triệu hai trăm hai mươi tư nghìn) đồng.

Chi cục thi hành án huyện Như Xuân hoàn trả cho đại diện người bị hại số tiền 53.000.000 đồng đang tạm thu của các bị cáo.

Giành quyền khởi kiện cho bị cáo Hồ Công T yêu cầu những người khác liên đới chịu trách nhiệm bồi thường khi có đủ chứng cứ.

Khi bản án có hiệu pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền người phải thi hành án phải bồi thường, nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người phải thi hành án phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước (6 x 10)cm; 01 mảnh gạch nung màu vàng – đỏ đã bị vỡ, kích thước (9,5 x 14)cm; 01 đôi dép màu xanh đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 27)cm; 01 đôi dép màu trắng đen, kích thước mỗi chiếc (9 x 25)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (10 x 15)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 19)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (17 x 43)cm; 01 mảnh gạch bê tông bị vỡ, kích thước (9 x 23)cm; 01 mảnh nhựa vỡ, màu xanh (vỏ đèn pin); Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu; 01 dao bằng kim loại (dạng dao phát cỏ) toàn bộ thân dao và cán dao dài 101 cm. Phần cán dao bằng gỗ (tre) dài 60 cm, phần lưỡi dao dài 31 cm, mũi dao vát chéo, nhọn, lưỡi dao sắc. Lưỡi dao chỗ rộng nhất 06 cm, hẹp nhất 04 cm. Phần chuôi dao bọc cán dao bằng kim loại dài 10 cm; 01 kiếm bằng kim loại (dạng mã tấu) màu sáng bạc, dài 62 cm, phần lưỡi kiếm dài 45 cm, cán kiếm dài 17 cm. Lưỡi kiếm chỗ rộng nhất 07 cm, chỗ hẹp nhất 04 cm, lưỡi kiếm cong, sắc, mũi kiếm nhọn, trên lưỡi kiếm bị sứt mẻ ở một số vị trí.

Các vật chứng trên hiện đang lưu trữ tại kho tang vật của Cơ quan thi hành án dân sự huyện N theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28/2024/TSVC ngày 07/06/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo Hồ Công T, Hồ Công T7, Nguyễn Đình C, Bùi Trung S, Hồ Công D1, Trương Công H3, Lê Văn C2 và Lê Văn T4 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST. Bị cáo Hồ Công T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.611.200đ (Chín triệu sáu trăm mười một nghìn hai trăm đồng). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Đình Q1.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - Công an huyện Như Xuân;
  • - Các Bị cáo;
  • - Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Công Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HSST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự: cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 36/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Công T & Đồng phạm, phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" và "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger