Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẠCH THÔNG

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THỐNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Tập

Bà Triệu Thị Hiến

Thư ký phiên toà: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Dư - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo:

Dương Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 02 năm 1988 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Bằng K và bà Hoàng Thị H; có vợ là La Thị T1(đã ly hôn); có 01 con; tiền án: Không; Tiền sự: 01 (ngày 20/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA – ngày 12/3/2024 chấp hành xong); nhân thân: Ngày 20/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 27/6/2024, tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B làm nhiệm vụ tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạnphát hiện Dương Văn T2 năm 1988 có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Ttự nguyện giao nộp: 01 (một) túi nilon màu trắng, loại túi zip có khóa bên trong, có chứa chất màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy đối với số chất màu trắng có trong túi nilon trên, kết quả thử phản ứng trùng với phản ứng đặc trưng của ma túy, loại Heroine và được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn T3 quả: Không phát hiện và tạm giữ đồ vật, tài liệu gì. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Dương Văn T, xác định: Số chất màu trắng có trong phong bì ký hiệu “T” có khối lượng là 4,887g (bốn phẩy tám tám bảy gam).

Kết luận giám định số: 239/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K2Công an tỉnh Bkết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 4,887g.

Quá trình điều tra, truy tố Dương Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 27/6/2024, Tđón xe ô tô khách từ nhà ở tại thôn T, xã Đ, huyện B xuống thành phố B, mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bến xe khách Bthì xuống xe gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi có biểu hiện nghiện ma túy; T4 hỏi mua ma túy và đưa cho người đàn ông này 1.000.000₫ (Một triệu đồng). Người đàn ông cầm tiền và bảo T5 đợi. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho T01 (một) túi nilon màu trắng, loại túi zip, có khóa bên trong, có chứa chất màu trắng là ma túy, loại heroin. Tcầm túi ma túy và cất vào túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người rồi đón xe ô tô khách đi về; khi xe đến thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạnthì Txuống xe đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, bắt quả tang. Khi bị kiểm tra T6 tự giác lấy từ túi quần phía sau bên phải Tđang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng, loại túi zip, có khóa bên trong, có chứa chất màu trắng giao nộp cho tổ công tác.

Vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T155, bên trong là mẫu chất trong phòng bì ký hiệu GĐ còn lại 4,675g (bốn phẩy sáu bảy năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC”, bên trong có 01 (một) túi zip màu trắng có khóa và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

2

Cáo trạng số: 32/CT-VKSBT ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố Dương Văn T7 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Dương Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Dương Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Văn T từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T155, bên trong là mẫu chất trong phòng bì ký hiệu GĐ còn lại 4,675g (bốn phẩy sáu bảy năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC”, bên trong có 01 (một) túi zip màu trắng có khóa và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 50 phút ngày 27/6/2024, tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc KạnDương Văn Tđã có hành vi tàng trữ trái phép 4,887g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

3

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS) quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a);

.........

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát

Xét thấy Cáo trạng số 32/CT-VKSBT ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Dương Văn T về tội danh, về điều luật áp dụng; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo, về xử lí vật chứng là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 20/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”).

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Dương Văn K1 Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng thêm 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

4

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Bị cáo không có tài sản riêng, gia đình bị cáo có 01 thửa đất rừng không đủ đáp ứng nhu cầu lương thực cho cả gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T155, bên trong là mẫu chất trong phòng bì ký hiệu GĐ còn lại 4,675g (bốn phẩy sáu bảy năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC”, bên trong có 01 (một) túi zip màu trắng có khóa là vật không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 27/6/2024; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này, và cũng không quen biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Dương Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2024).

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án (Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T155, bên trong là mẫu chất trong phòng bì ký hiệu GĐ còn lại 4,675g (bốn phẩy sáu bảy năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC”, bên trong có 01 (một) túi zip màu trắng có khóa và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

5

(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn T8

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Bạch Thông;
  • - Công an huyện Bạch Thông;
  • - THADS huyện Bạch Thông;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hương Thành

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Thoại bị TAND huyện Bạch Thông xử phạt 04 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger