|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 12 – 11 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung, ông Nguyễn Văn Mừng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Vào ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
PHẠM BÁ H - Sinh năm 1993; Quê quán: xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ĐKHKTT: bản P, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Bá H1, sinh năm 1968 (đã chết) và bà Hà Thị N, sinh năm: 1969. Trú tại: bản P, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vợ là Ngân Thị D (sinh năm: 1995 - đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2012.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/08/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Q (Có mặt);
- Bị hại: Chị Lộc Thị B - Sinh năm: 1987 (Vắng mặt có lý do).
Địa chỉ: bản C, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngân Văn T, sinh năm: 1961 (Có mặt)
Địa chỉ: bản N, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h ngày 12/06/2024, Phạm Bá H (sinh năm: 1993 - trú tại: bản P, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa), đến thăm người thân đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện Q (Khu D, Thị trấn H, huyện Q). Khi H đi qua Phòng điều trị số 10, Tầng 1 Khoa Cấp cứu - Nhi của bệnh viện, H nhìn thấy một điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh ngọc, nhãn hiệu OPPO A77s, là tài sản của chị Lộc Thị B (sinh năm: 1987; trú tại: bản C, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa). Trong phòng có chị B và ông Lộc Văn B1 (sinh năm: 1963 - là bố đẻ của chị B) đang nằm ngủ ở trên giường. Nhìn thấy điện thoại không có ai trông giữ nên H mở cửa đi vào phòng, rút sạc pin điện thoại ra, cầm lấy điện thoại và rời khỏi Bệnh viện
Đến ngày 14/06/2024, H tiếp tục đến Bệnh viện Đa khoa huyện Q, khi đến phòng 5, tầng 2, Khoa Nội Bệnh viện; Hoạch thấy ông Ngân Văn T (sinh năm 1961; trú tại: bản N, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) đang ngủ, bên cạnh có một chiếc áo ngắn tay màu xám. Hoạch cầm lấy chiếc áo ra nhà vệ sinh Bệnh viện kiểm tra phát hiện trong túi áo bên trái có tổng số tiền là 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng); bao gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng); H đã lấy số tiền trên và rời khỏi Bệnh viện
Tại bản Kết luận định giá số12/KL-HDDGTS ngày 05 tháng 07 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện Q kết luận: 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77s, màu xanh ngọc đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm tài sản bị xâm phạm là: 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về Kết luận định giá nêu trên.
Ngày 13/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại OPPO màu xanh của chị Lộc thị B và số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Ngân Văn T. Bị cáo tự nguyện giao nộp các tài sản trên cho Cơ quan Công an
Ý kiến của bị hại chị Hà Thị B2: Chị đã được nhận lại tài sản chiếc điện thoại và không có ý kiến gì, chị đề nghị cơ quan pháp luật xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngân Văn T: Anh T đã được Cơ quan điều tra trả lại số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) và không có ý kiến gì khác
Vật chứng của vụ án gồm có: 01 điện thoại OPPO A 77S màu xanh đã qua sử dụng, số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) là tài sản do phạm tội mà có; đã được Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT- VKS- QH ngày 17/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
Về án phí: Đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra truy tố đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại; lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại của chị Lộc Thị B có giá trị là 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân là đối tượng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ý thức được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt chính:
+ Ngoài hành vi trộm cắp điện thoại của chị B; vào ngày 14/06/2024, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) của anh N1 văn Thiệt; đã bị Cơ quan Công an huyện Q ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 03/10/2024. Hơn nữa trong giai đoạn xác minh, giải quyết tin báo về tội phạm, bị cáo không chấp hành Giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Điều này chứng minh bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, không tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm sáng tỏ nội dung vụ án. Kết quả xác minh trong giai đoạn điều tra cho thấy bị cáo không có nơi cư trú ổn định
+ Từ những phân tích trên, căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; HĐXX xét thấy cần áp dụng một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nơi cư trú, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên căn cứ khoản 2 Điều 50 BLHS; không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về các tình tiết khác trong vụ án: Vào ngày 14/06/2024, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) của anh N1 văn Thiệt. Hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, và được thực hiện độc lập với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Cơ quan Công an huyện Q ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 03/10/2024 đối với bị cáo là đúng quy định
[8] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại OPPO A77S màu xanh, số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét
[9] Về án phí: Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội; HĐXX miễn án phí hình sự đối với bị cáo
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Tuyên: Bị cáo Phạm Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt: Bị cáo 08 (T1) tháng Tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20 tháng 08 năm 2024.
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án; trong thời hạn 15 (mười lăm ngày); kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Vi Ngọc Trung |
Nguyễn Văn Mừng |
Ngô Thị Thanh |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Bá Hoạch phạm tội “Trộm cắp tài sản”
