Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIÊN LƯƠNG

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đạt

2. Bà Nguyễn Thị Tiến

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Chao Thị Mỹ Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiên lương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS, ngày 04/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn H - Giới tính: Nam. Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1985. Nơi sinh: huyện G, tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Số H, ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn S và bà Huỳnh Thị V.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trương Văn T, sinh năm 1989. Địa chỉ: tổ A, khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1989. Địa chỉ: khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2018, Bùi Văn H được đối tượng tên S1 (nay đã chết) cho số điện thoại di động của một người thanh niên (không rõ nhân thân) ở Thành phố Hồ Chí Minh (S) chuyên bán ma túy cho S1 để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/5/2024, Bùi Văn H dùng điện thoại di động SAMSUNG gắn sim (không đăng ký người sử dụng) liên lạc với thanh niên ở S mua 6.800.000 đồng ma túy thì được người thanh niên đồng ý nên H đã chuyển tiền cho người thanh niên bằng dịch vụ chuyển tiền nhanh tại cửa hàng Q1 thuộc khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Đến khoảng 15 giờ ngày 21/5/2024, Bùi Văn H đi đến bến xe B đón xe khách Tuấn N1 chạy tuyến H - S lấy số ma túy người thanh niên gửi cho H được giấu kín trong hộp trà. Sau đó, H mang số ma túy đi về chuồng gà bỏ hoang thuộc tổ B, khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang lấy một ít ma túy trong hộp trà ra sử dụng, số còn lại H phân ra thành từng tép (bịch) riêng lẻ để bán cho các con nghiện.

Đến khoảng 12 giờ 10 ngày 22/5/2024, Danh D (sinh năm 1994) đến chuồng gà bỏ hoang gặp Bùi Văn H mua 01 bịch ma tuý với giá 200.000 đồng nhưng do không đủ tiền nên D trả trước 180.000 đồng thì được H đồng ý; ngay lúc H đang cầm bịch ma túy chuẩn bị giao cho D thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu chữ A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0616 gam. Đồng thời, qua kiểm tra trong túi áo trên người Bùi Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ một vỏ bao thuốc lá HERO bên trong có 40 bịch nylon màu trắng gồm 02 bịch nylon màu trắng được hàn kín, đánh số 01 bằng mực xanh; 11 bịch nylon màu trắng được hàn kín có đánh số 02 bằng mực xanh; 01 bịch nylon màu trắng có nẹp gài màu đỏ có đánh số 02 bằng mực xanh; 12 bịch nylon màu trắng có nẹp gài màu xanh được đánh số 03 bằng mực xanh và 14 bịch nylon màu trắng được hàn kín có đánh số 04 bằng mực xanh; bên trong tất cả các bịch nylon đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu chữ B gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 16,1862 gam được H chuẩn bị dùng để bán cho các con nghiện và tiền Việt Nam 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định, trước khi bị bắt quả tang Bùi Văn H đã nhiều lần bán ma túy cho các con nghiện tại chuồng gà bỏ hoang thuộc tổ B, khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, thu lợi bất chính 5.300.000 đồng nhưng H đã tiêu xài cá nhân hết 300.000 đồng, cụ thể như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 21/5/2024, ngay sau khi lấy ma túy về chia tép xong, H đã bán cho Tài K (không rõ nhân thân) một lần, 01 tép giá 500.000 đồng và 22 giờ cùng ngày bán cho Q (không rõ nhân thân) một lần, 01 tép giá 200.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ ngày 22/5/2024, bán cho Đen Xà N2 (không rõ nhân thân) một lần khoảng 10 tép giá 2.000.000 đồng và khoảng 09 giờ cùng ngày, bán ma túy cho Đen Bình A (không rõ nhân thân) một lần khoảng 08 tép giá 1.800.000 đồng. Sau đó, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, ngay sau khi Đen B đi về thì H tiếp tục bán ma túy cho V1 nhỏ (không rõ nhân thân) một lần, 01 tép giá 200.000 đồng, khoảng 10 giờ 30 phút bán cho T1 (không rõ nhân thân) một lần, 01 tép giá 300.000 đồng đến 11 giờ, bán cho Trương Văn T (sinh năm 1989) một lần, 01 tép giá 300.000 đồng.

Vật chứng không thu được: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không thu được 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đọt chuối, không rõ số Imei, đã qua sử dụng.

Theo Kết luận giám định số 487/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K:

Mẫu cần giám định:

  • + Gói 1: Một bì thư màu trắng ký hiệu chữ A, được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên O; Người lập biên bản: Nguyễn S1: Người chứng kiến Nguyễn Thanh C; Người có đồ vật bị niêm phong Bùi Văn H và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang”, bên trong bì thư có chứa 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất.
  • + Gói 02: Một bì thư màu trắng ký hiệu chữ B, được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên O; Người lập biên bản: Nguyễn S1: Người chứng kiến Nguyễn Thanh C; Người có đồ vật bị niêm phong Bùi Văn H và các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang”, bên trong bì thư có chứa 02 (hai) bịch nylon màu trắng được hàn kín, đánh số 01 bằng mực xanh, 11 bịch nylon màu trắng được hàn kín đánh số 02 bằng mực xanh; 01 bịch nylon màu trắng có nẹp gài màu đỏ có đánh số 02 bằng mực xanh; 12 bịch nylon có nẹp gài màu xanh có đánh số 03 bằng mực xanh; 14 bịch nylon màu trắng được hàn kín có đánh số 04 bằng mực xanh. Bên trong tất cả các bịch nylon nói trên có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất.

Kết luận về đối tượng giám định:

  • + Gói 01: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định 0,0616 gam.
  • + Gói 02: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 40 (bốn mươi) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định 16,1862 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang truy tố, bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm quy định pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn H đang bán cho Danh D 01 bịch ma túy, thu lợi bất chính 180.000 đồng, tại tổ B, khu phố X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang nhưng D chưa nhận ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chưa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu chữ A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0616 gam. Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ trong túi áo trên người Bùi Văn H 40 bịch nylon màu trắng, bên trong tất cả các bịch nylon đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niêm phong trong bì thư màu trắng ký hiệu chữ B gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 16,1862 gam được Bùi Văn H chuẩn bị dùng để bán cho các con nghiện. Như vậy tổng khối lượng chất ma túy, loại Methamphetamine Bùi Văn H dùng để mua bán cho các con nghiện là 16,2478 gam.

Ngoài ra, từ ngày 21/5/2024 đến trước khi bị bắt quả tang, Bùi Văn H đã nhiều lần (07 lần) mua bán trái phép chất ma túy cho các con nghiện khác trên địa bàn huyện K, thu lợi bất chính tổng số tiền 5.300.000 đồng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với cáo trạng và các lời khai có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác... Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra. Bản thân bị cáo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi mua bán ma túy nhiều lần, tổng khối lượng 16,2478 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán lại cho các con nghiện. Khối lượng ma túy mà bị cáo mua bán trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (từ 05 gam đến 30 gam). Do đó, hành vi của Bùi Văn H đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương truy tố đối với bị cáo H là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  1. 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 520/Gói 1, ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H1, người chứng kiến Mai Tấn Đ và hình dấu tròn Phòng K1 Công an tỉnh K.
  2. 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 520/Gói 2, ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H1, người chứng kiến Mai Tấn Đ và hình dấu tròn Phòng K1 Công an tỉnh K.
  3. 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, có ký hiệu chữ HELLO, đã qua sử dụng.
  4. 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO, đã qua sử dụng.
  5. 01 (một) cái áo sơ mi ngắn tay, sọc caro màu xanh, đã qua sử dụng.
  6. 01 (một) bình nhựa, phí trên có nắp bình bằng nhựa màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống thủy tinh và một lỗ gắn ống thủy tinh và một lỗ gắn ống hút nhựa, đã qua sử dụng.
  7. 01 (một) hộp quẹt ga, màu đỏ, có chữ TANAKA LIGHTER, đã qua sử dụng.
  8. 01 (một) cây kéo bằng kim loại, có chiều dài 10,5 cm, đã qua sử dụng.
  9. 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài màu đỏ, đã qua sử dụng.
  10. 01 (một) hộp trà bằng giấy, màu xanh, có chữ Trà Xanh M, đã qua sử dụng.

[6] Xử lý tiền liên quan đến tội phạm:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 5.480.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
    • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 22/5/2024.
  2. Về tang vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
    1. 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 520/Gói 1, ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H1, người chứng kiến Mai Tấn Đ và hình dấu tròn Phòng K1 Công an tỉnh K.
    2. 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 520/Gói 2, ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H1, người chứng kiến Mai Tấn Đ và hình dấu tròn Phòng K1 Công an tỉnh K.
    3. 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, có ký hiệu chữ HELLO, đã qua sử dụng.
    4. 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu HERO, đã qua sử dụng.
    5. 01 (một) cái áo sơ mi ngắn tay, sọc caro màu xanh, đã qua sử dụng.
    6. 01 (một) bình nhựa, phí trên có nắp bình bằng nhựa màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống thủy tinh và một lỗ gắn ống hút nhựa, đã qua sử dụng.
    7. 01 (một) hộp quẹt ga, màu đỏ, có chữ TANAKA LIGHTER, đã qua sử dụng.
    8. 01 (một) cây kéo bằng kim loại, có chiều dài 10,5 cm, đã qua sử dụng.
    9. 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài màu đỏ, đã qua sử dụng.
    10. 01 (một) hộp trà bằng giấy, màu xanh, có chữ Trà Xanh M, đã qua sử dụng.
    11. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện K và Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Kiên Lương ngày 03/10/2024.
  3. Xử lý tiền liên quan đến tội phạm:

    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.480.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy:

    • - Số tiền 300.000 đồng lai thu số 0003063 ngày 30/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, do ông Bùi Văn S là đại diện gia đình bị cáo H nộp.
    • - Số tiền 180.000 đồng theo giấy nộp tiền ngày 26/8/2024 vào tài khoản của Phòng tài chính kế hoạch huyện K, tại Ngân hàng N3 – Chi nhánh B.
    • - Số tiền 5.000.000 đồng theo giấy nộp tiền ngày 30/9/2024 vào tài khoản của Phòng tài chính kế hoạch huyện K, tại Ngân hàng N3 – Chi nhánh B.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫.

  5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/10/2024). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Kiên Lương;
  • - Thi hành án DS huyện Kiên Lương;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu tập án, hồ sơ;
  • - Lưu VP./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cao Bui Van H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger