Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

“V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Võ Thị Cảnh;
  • 2. Ông Đỗ Khắc Vũ;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Toà án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2024. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Mai Văn L, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai;

Anh Mai Văn L có mặt và chị Nguyễn Thị N vắng mặt lần thứ 2 tại phiên toà không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn anh Mai Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N qua thời gian quen biết tìm hiểu thì tự nguyện về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 30/11/2018.

Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, sau đó ngày càng trầm trọng hơn và không thể tự hòa giải được. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không tính tình, quan điểm sống khác nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã, cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay xét thấy anh không còn tình cảm, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với chị N nên anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh và chị N không có con chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị N không có tài sản chung và nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 14/5/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị không đồng ý ly hôn với anh Mai Văn L.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Giấy chứng kết hôn mang tên Mai Văn L và Nguyễn Thị N (bản chính) và 01 Căn cước công dân mang tên Mai Văn L (bản pho to);

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Anh L và chị N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 30/11/2018. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do anh L giao nộp là 01 Giấy chứng nhận kết hôn mang tên Mai Văn L và Nguyễn Thị N (bản chính).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn: Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 232; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Mai Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.

Về án phí: Anh Mai Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. (Có kèm theo bài phát biểu)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Mai Văn L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc “Ly hôn” giữa anh và chị Nguyễn Thị N, địa chỉ tại thôn F, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

[2] Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thông báo, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng triệu tập chị Nguyễn Thị N đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng chị N vắng mặt không có lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Văn L và chị Nguyễn Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 30/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị N là hợp pháp.

[4] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Anh L cho rằng trong quá trình chung sống giữa anh và chị N đã phát sinh những mâu thuẫn do không phù hợp về quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Về phía chị N không đồng ý ly hôn với anh L vì chị vẫn còn tình cảm với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải, tạo điều kiện cho anh L và chị N đoàn tụ gia đình nhưng chị N vắng mặt trong các phiên hòa giải cũng như vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án nên việc động viên, hòa giải cho anh chị về đoàn tụ không thực hiện được. Chị N cũng không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Bên cạnh đó, Toà án đã nhiều lần khuyên giải, động viên anh L rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh L vẫn kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy anh Lưu K muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với chị N, tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Văn L, xử cho anh L được ly hôn với chị N.

[5] Về con chung: Anh Mai Văn L và chị Nguyễn Thị N không có con chung nên không yêu cầu Toà àn giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Mai Văn L và chị Nguyễn Thị N không tài sản chung nên anh Lưu K yêu cầu Toà àn giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Anh Mai Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 232; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Mai Văn L.

Xử cho anh Mai Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.

[2] Về án phí: Anh Mai Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002163 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Anh Mai Văn L đã nộp đủ án phí.

[3] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024) nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -VKSND huyện Kbang;
  • -Chi cục THADS huyện Kbang;
  • -Các đương sự;
  • -UBND cấp xã nơi ĐKKH;
  • -Lưu HSVA,VPTA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger