|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST
Ngày: 16/9/2024
“V/v Yêu cầu thực hiện nghĩa nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải và ông Đàm Công Lưu;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký TAND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt
Địa chỉ: Số 16 Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu quyết Thắng; Chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Nhị – Chuyên viên cao cấp phòng xử lý nợ, khối quản lý rủi ro ngân hàng TMCP Bảo Việt (có mặt)
Địa chỉ: Số 16 Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
2/ Bị đơn: Ông Đỗ Tá Cường, sinh năm 1965 (vắng mặt);
Bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1964 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khu phố Thọ Môn, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Bảo Việt trình bày tại phiên tòa:
Ngân hàng TMCP Bảo Việt (viết tắt là BAOVIET Bank) có cho anh Đỗ Tá Hoàn vay tiền theo 02 hợp đồng tín dụng như sau:
- - Hợp đồng tín dụng số 404/2019/HĐTD2/BVB0002 ký ngày 27/05/2019, anh Hoàn vay của ngân hàng BAOVIET Bank số tiền 690.000.000 đồng để bù đắp mua bất động sản. Thời hạn vay là 240 tháng. Các kỳ trả nợ gốc, lãi vào các ngày 05 hàng tháng. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 12%/năm trong vòng 12 tháng đầu, lãi suất các kỳ sau được điều chỉnh 06 tháng/lần, được xác định bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng (loại trả lãi sau) do ngân hàng BAOVIET Bank công bố cộng biên độ 5%/năm.
- - Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 405/2019/HĐTC2/BVB0002 ký ngày 28/05/2019, anh Hoàn vay số tiền 1.000.000.000 đồng để phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn vay từ 28/05/2019 đến ngày 30/04/2020. Các kỳ trả nợ gốc, lãi cụ thể gốc trả cuối kỳ, lãi trả hàng tháng theo dư nợ thực tế. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 13%/năm.
Để đảm bảo khoản vay anh Hoàn có thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 01, diện tích 110,3m², địa chỉ tổ 1a, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây theo GCN quyền sử dụng đất số S148470, số vào sổ cấp GCN 00118.QSDĐ/XK do UBND thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cấp ngày 18/08/2003 (Nay là thành phố Hà Nội), sang tên cho anh Đỗ Tá Hoàn ngày 18/5/2019 (sau đây gọi tắt là thửa đất số 54). Các bên có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2943.2019, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/05/2019 tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt – thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình trả nợ vay, anh Hoàn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng BAOVIET Bank. Tạm tính đến ngày 15/11/2023 ông Đỗ Tá Hoàn đã trả được số tiền là: 59.984.863 đồng. Trong đó: Trả gốc là 17.250.000 đồng; Trả lãi trong hạn là 42.734.856 đồng; Trả lãi quá hạn là 0 đồng; Trả lãi chậm trả lãi là 7 đồng theo Hợp đồng 404/2019/HĐTD2/BVB0002 còn hợp đồng 405/2019/HĐTC2/BVB0002 chưa thanh toán.
Tạm tính đến ngày 16/9/2024 anh Hoàn còn nợ ngân hàng BAOVIET Bank số tiền là: 3.151.654.859 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, lãi quá hạn 1.096.651.253 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng. Cụ thể; theo từng Hợp đồng như sau: Hợp đồng 404/2019/HĐTD2/BVB0002 nợ gốc 672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, nợ lãi quá hạn là 135.221.539 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng, tổng số tiền 1.190.225.145 đồng. Hợp đồng 405/2019/HĐTC2/BVB0002 nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.429.714 đồng, tổng là 1.961.429.714 đồng.
Ngày 04/6/2020 anh Đỗ Tá Hoàn chết (theo trích lục khai tử số 100/2022/TLKT –BS ngày 20/9/2022 của UBND phường Đình Bảng). Hiện nay hàng thừa kế thứ nhất của anh Hoàn có bố mẹ đẻ là ông Đỗ Tá Cường và bà Nguyễn Thị Hiền. Di sản thừa kế anh Hoàn để lại là thửa đất số 54. Vì vậy ngân hàng BAOVIET Bank khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Cường, bà Hiền là nghĩa vụ, thực hiện trả nợ thay cho anh Hoàn đã chết. Tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 3.151.654.859 đồng. Đồng thời tiếp tục trả các khoản tiền lãi, tiền chậm trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết các nghĩa vụ cho BAOVIET Bank. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Cường, bà Hiền không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng BAOVIET Bank thì ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54. Về chi phí xem xét thẩm định Ngân hàng tự chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Tại văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 07/5/2024, ông Đỗ Tá Cường, bà Nguyễn Thị Hiền trình bày ông bà là bố mẹ đẻ anh Đỗ Tá Hoàn. Ông Cường, bà Hiền không biết sự việc trên và nguồn gốc thửa đất anh Hoàn thế chấp tại Ngân hàng BAOVIET Bank. Vì vậy, ông Cường và bà Hiền từ chối tham gia tố tụng, xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án. Việc ông Cường và bà Hiền từ chối cũng không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Cường, bà Hiền vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án theo đúng quy định của pháp luật nên Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Cường, bà Hiền là nghĩa vụ, thực hiện trả nợ thay cho anh Hoàn đã chết. Tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 3.151.654.859 đồng. Đồng thời tiếp tục trả các khoản tiền lãi, tiền chậm trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết các nghĩa vụ cho BAOVIET Bank. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Cường, bà Hiền không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng BAOVIET Bank thì ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54. Về chi phí xem xét thẩm định Ngân hàng tự chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX vào nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Cường, bà Hiền vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
- - Trên cơ sở tài liệu có trong hồ sơ và tranh luận, đối đáp của các đương sự tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, 39, 203, 232, 262, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280, 613, 616, 620, 649, 650, 651 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: BAOVIET Bank có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Đỗ Tá Hoàn đối với BAOVIET Bank.
Không chấp nhận đối với yêu cầu Buộc ông Đỗ Tá Cường và bà Nguyễn Thị Hiền là người kế thừa quyền và nghĩa vụ theo pháp luật của anh Đỗ Tá Hoàn phải trả khoản nợ trên.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng BAOVIET Bank có ký 02 hợp đồng tín dụng với anh Đỗ Tá Hoàn vào các ngày 27/5/2019 và 28/5/2019. Căn cứ Trích lục khai tử số 100/2022/TLKT-BS ngày 20/9/2022 của Uỷ ban nhân dân phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xác định anh Đỗ Tá Hoàn chết ngày 04/6/2020. Theo Giấy khai sinh (bản sao) số 56/2024/GKS-BS sao từ sổ đăng ký khai sinh ngày 07/3/2024 và biên bản về việc xác minh hàng thừa kế ngày 07/3/2024 tại Uỷ ban nhân dân phường Đình Bảng thì hàng thừa kế thứ nhất của anh Hoàn hiện nay có bố đẻ là ông Đỗ Tá Cường và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Hiền. Ngân hàng làm đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và Tòa án thụ lý vụ án ngày 10/4/2024, tức là thời điểm sau khi anh Hoàn chết. Di sản anh Hoàn để lại là thửa đất số 54.
Hiện nay ngân hàng BAOVIET Bank khởi kiện buộc ông Đỗ Tá Cường, bà Nguyễn Thị Hiền là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Đỗ Tá Hoàn có nghĩa vụ thanh toán 02 khoản nợ theo 02 hợp đồng tín dụng đã ký giữa Ngân hàng và anh Đỗ Tá Hoàn vào các ngày 28/5/2019 và 28/5/2019. Như vậy quan hệ tranh chấp là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
- Về thẩm quyền: Ông Cường, bà Hiền đang cư trú tại khu phố Thọ Môn, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ các Điều 611, 612, 613, 614, 615 Bộ luật dân sự 2015; khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết là đúng quy định pháp luật.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 07/5/2024, bị đơn xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án cũng như các buổi làm việc trên phiên tòa. Vì vậy; Có thể xác định bị đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
- Về thời hiệu khởi kiện
Căn cứ Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (ngày 04/6/2020). Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu áp dụng nên căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án không áp dụng thời hiệu, tiếp tục giải quyết vụ án là có căn cứ.
- Ngày 10/4/2024 Tòa án ban hành thông báo thụ lý vụ án số 90/2024/TB-TLVA ghi quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/4/2024 Tòa án ra Thông báo số 01/2024/TB-TA về việc thay đổi quan hệ pháp luật là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” và tống đạt đầy đủ cho các đương sự nên vẫn đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 404/2019/HĐTD2/BVB0002 ký ngày 27/5/2019; Khế ước nhận nợ số 404/2019/HĐTD2/BVB0002 ngày 29/5/2019 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 405/2019/HĐTC2/BVB0002 ký ngày 28/5/2019 giữa Ngân hàng BAOVIET Bank với anh Đỗ Tá Hoàn, Hội đồng xét xử thấy rằng; Các bên tham gia giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc ký hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng nên các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Hoàn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tạm tính đến ngày 16/9/2024 anh Hoàn còn nợ ngân hàng BAOVIET Bank số tiền là: 3.151.654.859 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, lãi quá hạn 1.096.651.253 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng. Cụ thể; theo từng Hợp đồng như sau: Hợp đồng 404/2019/HĐTD2/BVB0002 nợ gốc 672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, nợ lãi quá hạn là 135.221.539 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng, tổng số tiền 1.190.225.145 đồng. Hợp đồng 405/2019/HĐTC2/BVB0002 nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.429.714 đồng, tổng là 1.961.429.714 đồng. Ngoài ra còn các khoản tiền lãi, tiền chậm trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết các nghĩa vụ cho BAOVIET Bank.
[2.2] Nghĩa vụ trả nợ
Hiện nay anh Hoàn đã chết có để lại di sản là thửa đất số 54 đã thế chấp tại Ngân hàng BAOVIET Bank để đảm bảo cho khoản vay. Hàng thừa kế thứ nhất của anh Hoàn chỉ có ông Cường, bà Hiền là bố mẹ đẻ. Ông Cường, bà Hiền có ý kiến là từ chối nhận di sản thừa kế nhưng căn cứ Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2015 ông Cường, bà Hiền có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng BAOVIET Bank khoản vay của anh Hoàn để lại theo Hợp đồng tín dụng số 404/2019/HĐTD2/BVB0002 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 405/2019/HĐTC2/BVB0002.
[2.3] Tài sản thế chấp:
Để đảm bảo khoản vay anh Hoàn có thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 01, diện tích 110,3m², địa chỉ tổ 1a, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây theo GCN quyền sử dụng đất số S148470, số vào sổ cấp GCN 00118.QSDĐ/XK do UBND thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cấp ngày 18/08/2003 (Nay là thành phố Hà Nội), sang tên cho anh Đỗ Tá Hoàn ngày 18/5/2019 (sau đây gọi tắt là thửa đất số 54). Các bên có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2943.2019, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/05/2019 tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt – thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/7/2024 Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 26/2024/QĐ –UTTA ủy thác cho Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
HĐXX xét thấy: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hòa Nội thì thửa đất số 54, tờ bản đồ 01, diện tích 110,3m² địa chỉ: tổ 1a (nay là tổ dân phố 01), phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội).
Công trình xây dựng trên đất: 01 nhà cấp 4, 01 tầng, tường 20 xây gạch, mái lợp fibloximăng; 01 nhà phụ lợp fibloximăng; 01 tường phía trước; 01 cổng sắt gồm 02 trụ cổng; 01 sân lát gạch. Hiện không có ai thuê mướn, ở nhờ trên đất. Đại diện nguyên đơn trình bày từ thời điểm thế chấp đến nay hiện trạng tài sản không thai đổi. Bị đơn vắng mặt tại buổi thẩm định.
Xét thấy; Việc ký kết tài sản thế chấp giữa anh Hoàn và Ngân hàng BAOVIET Bank đã tuân thủ các quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Vì vậy anh Hoàn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó buộc các ông Cường, bà Hiền thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng BAOVIET Bank trong phạm vi di sản thừa kế của anh Hoàn để lại là có căn cứ chấp nhận. Nếu ông Cường, bà Hiền không thực hiện trả nợ đầy đủ thì ngân hàng BAOVIET Bank có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Đỗ Tá Hoàn đối với BAOVIET Bank.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng BAOVIET Bank.
[3] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của ngân hàng BAOVIET Bank được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ngân hàng BAOVIET Bank số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Tại văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 07/5/2024 bà Nguyễn Thị Hiền tự khai sinh ngày 23/12/1964. Trường hợp bà Hiền đủ 60 tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí nên vẫn phải chịu án phí. Vì vậy; Hội đồng xét xử buộc ông Đỗ Tá Cường, bà Nguyễn Thị Hiền phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng được khấu trừ vào phần tài sản thế chấp (di sản của anh Hoàn chết để lại) là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 01, diện tích 110,3m², địa chỉ tổ 1a, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây theo GCN quyền sử dụng đất số S148470, số vào sổ cấp GCN 00118.QSDD/XK do UBND thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cấp ngày 18/08/2003 (Nay là tổ dân phố 01, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội), sang tên cho ông Đỗ Tá Hoàn ngày 18/5/2019 khi ngân hàng BAOVIET Bank có đơn đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143, 144, 147, 184, khoản 1 Điều 227, Điều 235, 264, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 611, 612, 613, 614, 615, 616, 620, 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự 2015;
Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt về việc tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại đối với bị đơn ông Đỗ Tá Cường, bà Nguyễn Thị Hiền.
Buộc ông Đỗ Tá Cường, bà Đỗ Thị Hiền có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP Bảo Việt toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 16/9/2024 số tiền là: 3.151.654.859 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 1.672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, lãi quá hạn 1.096.651.253 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng. Cụ thể; theo từng Hợp đồng như sau: Hợp đồng 404/2019/HĐTD2/BVB0002 nợ gốc 672.750.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 299.061.346 đồng, nợ lãi quá hạn là 135.221.539 đồng, lãi chậm trả lãi là 83.192.260 đồng, tổng số tiền 1.190.225.145 đồng. Hợp đồng 405/2019/HĐTC2/BVB0002 nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.429.714 đồng, tổng là 1.961.429.714 đồng. Trong phạm vi di sản anh Đỗ Tá Hoàn chết để lại.
Ông Đỗ Tá Cường, bà Đỗ Thị Hiền còn phải chịu các khoản tiền lãi, tiền chậm trả lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng TMCP Bảo Việt.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực mà ông Đỗ Tá Cường và bà Nguyễn Thị Hiền không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Bảo Việt có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 01, diện tích 110,3m², địa chỉ tổ 1a, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây theo GCN quyền sử dụng đất số S148470, số vào sổ cấp GCN 00118.QSDĐ/XK do UBND thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cấp ngày 18/08/2003 (Nay là tổ dân phố 01, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội), sang tên cho ông Đỗ Tá Hoàn ngày 18/5/2019. Tài sản bảo đảm đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2943.2019, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/05/2019 giữa ông Đỗ Tá Hoàn với Ngân hàng TMCP Bảo Việt lập tại Văn phòng Công chứng Lạc Việt – thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hánh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2.Án phí:
Ông Đỗ Tá Cường, bà Nguyễn Thị Hiền phải chịu 95.033.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào phần tài sản thế chấp (di sản của anh Hoàn chết để lại), khi cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 01, diện tích 110,3m², địa chỉ tổ 1a, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây theo GCN quyền sử dụng đất số S148470, số vào sổ cấp GCN 00118.QSDĐ/XK do UBND thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cấp ngày 18/08/2003 (Nay là tổ dân phố 01, phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội), sang tên cho ông Đỗ Tá Hoàn ngày 18/5/2019.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP Bảo Việt số tiền 44.620.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23, số 0003704 ngày 04/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về yêu cầu thực hiện nghĩa nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
