Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số:36/2024/HS-ST

Ngày 06/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lương Khoa;

Ông Nguyễn Văn Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H

sinh ngày 01/01/1998, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V và bà Phan Thị Q; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 21/3/2024 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Đức T – Luật sư Văn phòng L; địa chỉ: số B đường H, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; ông T có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại: anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm: 1985 và chị Trần Thị Khánh H1, sinh năm: 1989; cùng trú tại: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (chị Trần Thị Khánh H1 ủy quyền cho anh Nguyễn Quốc T1 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 19/3/2024); anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Hữu T2, sinh năm: 1970 và chị Trần Thị H2, sinh năm: 1975; cùng trú tại: thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị (chị Trần Thị H2 ủy quyền cho anh Trần Hữu T2 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 13/3/2024); có mặt.

- Người làm chứng: chị Trần Thị H2, sinh năm: 1975; trú tại: thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 07/02/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 74C-072.61 của anh Trần Hữu T2 (sinh năm 1970, trú tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị) chở chị Trần Thị H2 (sinh năm 1975, vợ anh T2) lưu thông trên Quốc lộ A (mới) theo hướng Bắc - N. Khi đến Km739 + 365m (địa phận thôn A, xã T, huyện G), H bật đèn tín hiệu xin vượt các xe ô tô lưu thông cùng chiều phía trước, đồng thời điều khiển xe lưu thông sang làn đường bên trái thì phát hiện xe ô tô BKS 61K-003.89 do anh Nguyễn Quốc T1 (sinh năm 1985, trú tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương) điều khiển, trên xe có các cháu Nguyễn Quốc C, Nguyễn Quốc Thành N (sinh năm 2014, 2013, là con trai và cháu anh T1) lưu thông ngược chiều đang đi đến. Anh T1 đã đánh lái sang phải, đồng thời đạp phanh cho xe dừng lại nhưng do khoảng cách quá gần, H không kịp xử lý nên xảy ra tai nạn làm hai phương tiện hư hỏng.

Bản Kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K (KTHS) Công an tỉnh Q kết luận: “Tập tin video có tên “TNGT An Đồng Trung Sơn 07.02.mp4", dung lượng 2.80Mb, thời lượng 42 giây. Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa”.

Bản Kết luận giám định số 338/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q kết luận:

  • “1. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 74C-072.61 và xe ô tô BKS 61K-003.89 là: Phần bên trái phía trước xe ô tô BKS 74C-072.61 va chạm tương ứng với phần bên trái phía trước xe ô tô BKS 61K-003.89.
  • Xe ô tô BKS 74C-072.61 và xe ô tô BKS 61K-003.89 va chạm với nhau theo hướng từ trước ra sau trong trạng thái hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
  • 2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 74C-072.61 và xe ô tô BKS 61K-003.89 trên hiện trường là: Khu vực dấu vết ký hiệu số (3) được ghi nhận và mô tả trong sơ đồ khám nghiệm, trên Quốc lộ A thuộc phần đường dành cho phương tiện cơ giới theo chiều đi từ Đ đi V.
  • 3. Không có cơ sở để xác định tốc độ của xe ô tô BKS 74C-072.61 và xe ô tô BKS 61K-003.89 liền trước khi xảy ra va chạm”.

Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-ĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự (HĐĐGTSTTHS) huyện G kết luận: “Trị giá thay thế, sửa chữa các bộ phận hư hỏng do tai nạn giao thông của xe ô tô nhãn hiệu MERCEDES, số loại GLC300, số máy 26492030432055, số khung RLM0G8EB5MV015284, màu sơn trắng, biển số đăng ký 61K-003.89 tại thời điểm ngày 07/02/2024 là 418.964.000 đồng”.

Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 25/3/2024 của HĐĐGTSTTHS huyện G kết luận: “Trị giá thay thế, sửa chữa các bộ phận hư hỏng do tai nạn giao thông của xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại Ranger, số máy P4AT2084877, số khung MNCLMFF20GW480851, biển số đăng ký 74C-072.61 tại thời điểm ngày 07/02/2024 là 31.536.000 đồng”.

Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐGTS ngày 14/6/2024 của HĐĐGTSTTHS huyện G kết luận: “Trị giá phế liệu thu hồi của các bộ phận hư hỏng, thay thế trên xe ô tô BKS 61K-003.89, nhãn hiệu MERCEDES, số loại GLC300, số máy 26492030432055, số khung RLM0G8EB5MV015284, màu sơn trắng tại thời điểm ngày 07/02/2024 là 1.340.000 đồng”.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và ma túy của bị cáo H và anh T1 là: 0 mg/L và âm tính với chất ma túy.

Cáo trạng số 34/CT-VKS-GL ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • * Về trách nhiệm hình sự:
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
  • - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản án.
  • * Về trách nhiệm dân sự:
  • - Đề nghị HĐXX xử Tách phần dân sự giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu.
  • - Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS 74C-072.61, chủ xe là anh Trần Hữu T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị HĐXX không xem xét.
  • * Về vật chứng:
  • - Xe ô tô BKS 74C-072.61 chủ sở hữu là anh Trần Hữu T2 và giấy phép lái xe hạng B2 của bị cáo Nguyễn Văn H đang tạm giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh chờ xử lý, đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho các chủ sở hữu.
  • * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã gửi bản bào chữa cho Tòa án với nội dung thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh về tội danh và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ để tạo điều kiện cho bị cáo cáo lao động khắc phục hậu quả do mình gây ra. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại xe ô tô BKS 74C-072.61 chủ sở hữu là ông Trần Hữu T2 và giấy phép lái xe hạng B2 của bị cáo Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng đã gửi bản bào chữa cho Tòa án và xin xét xử vắng mặt, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt người bào chữa; Người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 291, khoản 1 Điều 292 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa và bị hại.

  3. Về hành vi phạm tội và tội danh:
  4. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ và bản ảnh hiện trường; các bản kết luận giám định; kết quả kiểm tra nồng độ cồn; lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định:

    Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 07/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn H có Giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô BKS 74C-072.61 lưu thông theo hướng Bắc - N. Khi đến Km739 + 365m thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện G, H bật đèn tín hiệu xin vượt các xe ô tô lưu thông cùng chiều phía trước, đồng thời điều khiển xe lưu thông sang làn đường bên trái nhưng thiếu quan sát và không khống chế được tốc độ thì phát hiện xe ô tô BKS 61K-003.89 do anh Nguyễn Quốc T1 điều khiển lưu thông ngược chiều đang đi đến. Anh T1 đã đánh lái sang phải, đồng thời đạp phanh cho xe dừng lại nhưng do khoảng cách quá gần, H không kịp xử lý và giảm tốc độ nên xảy ra va chạm với xe của anh T1 làm hai phương tiện hư hỏng nặng, trong đó xe ô tô BKS 61K- 003.89 bị thiệt hại 418.964.000 đồng. Hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

    Như vậy, bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-GL ngày 10 tháng 7 năm 2024 truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác mà còn làm cho tình hình trật tự, trị an của địa phương kém ổn định, nhân dân lo lắng thiếu an tâm khi tham gia giao thông. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi của bị cáo để có tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
  6. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình sinh sống tại địa phương từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 3 năm 2021 bị cáo tham gia tổ đội dân quân trong khu phố và phường Đ. Trong quá trình tham gia bị cáo luôn nổ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ góp phần đảm bảo an toàn trật tự tại địa phương và được Ban chỉ huy quân sự phường Đ xác nhận.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường trước một phần thiệt hại do mình gây ra cho người bị hại. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  7. Về hình phạt:
  8. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS lại có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; trước lần phạm tội này, luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 36 cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội vừa cải tạo, vừa lao động để phụ giúp gia đình. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  9. Về trách nhiệm dân sự:
  10. Ngày 09/7/2024 bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 320.000.000 đồng chi phí sửa chữa, thay thế các bộ phận hư hỏng của xe ô tô BKS 61K - 003.89 và được nhận lại các bộ phận đã thay thế. Nếu trước thời gian khi vụ án được xét xử, bị cáo không bồi thường đủ số tiền 320.000.000đ thì hai bên sẽ yêu cầu trong một vụ án dân sự khác. Bị cáo đã bồi thường được cho người bị hại số tiền 30.000.000 đồng.

    Ngày 10/8/2024 bị hại anh Nguyễn Quốc T1 đã có Đơn đề nghị Tòa án tách phần dân sự trong vụ án này để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng đồng ý với ý kiến của người bị hại. Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của bị hại là tự nguyện, đúng như trong biên bản thỏa thuận ngày 09/7/2024 giữa bị cáo và bị hại, việc tách phần dân sự giải quyết bằng vụ án khác không ảnh hưởng đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 30 BLTTHS nên cần chấp nhận.

    Đối với số phế liệu thu hồi của các bộ phận hư hỏng, thay thế trên xe ô tô BKS 61K-003.89, nhãn hiệu MERCEDES, số loại GLC300, số máy 26492030432055, số khung RLM0G8EB5MV015284 hiện bị hại anh Nguyễn Quốc T1 đang tạm giữ theo Biên bản bàn giao vật tư thu hồi giữa ông Nguyễn Minh Q1 đại diện Gara Ô tô QT và ông Nguyễn Quốc T1 ngày 12/6/2024. Các bên có quyền yêu cầu giải quyết khi yêu cầu giải quyết phần dân sự bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS 74C-072.61, chủ xe là anh Trần Hữu T2 và chị Trần Thị H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.

  11. Xử lý vật chứng và đồ vật liên quan: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
    • - Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ do Trung tâm Đ cấp ngày 26/12/2023 có giá trị đến 25/6/2024; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe ô tô do Tổng công ty cổ phần B cấp ngày 25/12/2023, có giá trị đến 25/12/2024 của xe ô tô BKS 74C - 072.61. 01 xe ô tô BKS 61K-003.89, nhãn hiệu MERCEDES, số loại GLC300, màu sơn trắng, bị hư hỏng sau tai nạn giao thông kèm theo bản sao của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 đối với Giấy đăng ký xe ô tô do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 21/12/2021; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số KD 7696659 do Chi nhánh T3 - 09D cấp ngày 22/12/2021, có giá trị đến ngày 21/06/2024; Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô do Công ty B1 cấp, có giá trị từ 31/01/2024 đến 31/01/2025; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 do Sở GTVT thành phố H cấp ngày 16/11/2018 có giá trị đến 16/11/2028 mang tên Nguyễn Quốc T1. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho các chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc T1 và anh Trần Hữu T2 là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
    • - Đối 01 xe ô tô BKS 74C - 072.61, màu sơn xanh, nhãn hiệu FORD, số loại Ranger, bị hư hỏng sau tai nạn đang tạm giữ tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh chờ xử lý. Ngày 28/8/2024 anh Trần Hữu T2 có đơn xin nhận lại xe có xác nhận của chính quyền địa phương và trình bày xe ô tô này thuộc sở hữu của vợ chồng anh T2, là phương tiện để gia đình chở hàng hóa, từ khi bị tạm giữ đến nay gia đình không có phương tiện để chở hàng hóa nên ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế của gia đình vì vậy có nguyện vọng xin được nhận lại để phục vụ hoạt động kinh tế gia đình. Hội đồng thấy rằng đây là xe ô tô thuộc sở hữu của vợ chồng anh Trần Hữu T2 và chị Trần Thị H2. Đây là phương tiện phục vụ cho hoạt động gia đình anh T2 và chị H2 nên cần chấp nhận trả lại xe ô tô BKS 74C - 072.61 cho anh T2 và chị H2.
    • - Về 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/10/2022, có giá trị đến 12/10/2032 của Nguyễn Văn H đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh chờ xử lý. HĐXX thấy rằng đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
  12. Về những vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với anh Nguyễn Quốc T1 điều khiển xe ô tô BKS 61K - 003.89 đi đúng làn đường, phần đường, chấp hành đúng quy định của Luật giao thông đường bộ và không có lỗi nên HĐXX không xem xét.
  13. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: bị cáo được Tòa án xử phạt cải tạo không giam giữ nên cần hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đối với bị cáo.
  14. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 27 (Hai bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố Đ nhận được quyết định thi hành án và bản án.
  3. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 BLTTHS: tách phần dân sự giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu.
  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
  6. Trả lại xe ô tô BKS 74C - 072.61, màu sơn xanh, nhãn hiệu FORD, số loại Ranger cho chủ sở hữu là anh Trần Hữu T2 và chị Trần Thị H2.

    Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/10/2022, có giá trị đến 12/10/2032 mang tên Nguyễn Văn H cho bị cáo.

    Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G và có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.

  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/9/2024), bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết; riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tạ Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger