|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN Số: 36/2024/HSST Ngày: 28/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Nhật Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Ký
- Ông Nguyễn Ngọc Chẩn
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thanh Q, (tên gọi khác: Hí) sinh ngày 10/5/1998; Nơi sinh: Sông C, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Số CCCD: [...] cấp ngày 28/4/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần N (chết) và bà Võ Thị L, sinh năm 1955; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Võ Nhật D, sinh năm 2007 (chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại: V/c bà Võ Thị Kim N1, sinh năm 1984 và ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985. Cùng trú tại: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Thanh T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Kỳ P, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của ông Võ Kỳ P: Ông Võ Kỳ T1. Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 01/11/2023, Trần Thanh Q (có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78N3-0164 (xe do Trần Thanh T, anh ruột Q đứng tên chủ sở hữu) chở Nguyễn Văn S ngồi sau đi từ Khu Công nghiệp Đ Sông C thuộc xã X để đến thôn T, xã X, thị xã S. Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày, khi Q đang điều khiển xe mô tô 78N3-0164 lưu hành theo hướng Đông - Tây trên phần đường bên phải hướng lưu hành của đường bê tông thôn T, xã X, thị xã S thì S ngồi sau nói với Q là nhà B (bạn của Q) ở gần khu vực này nên Q vừa điều khiển xe mô tô vừa nhìn sang hướng nhà dân bên phải đường dọc theo chiều đi dẫn đến không làm chủ được tay lái, làm xe mô tô 78N3-0164 chạy sang phần đường dành cho phương tiện hướng ngược chiều. Lúc này em Nguyễn Võ Nhật D điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 chở em Võ Kỳ P ngồi sau đang lưu hành hướng Tây – Đông chạy đến gần xe mô tô 78N3-0164 thì Q mới phát hiện và điều khiển xe mô tô 78N3-0164 né tránh qua bên phải nhưng không kịp dẫn đến xe mô tô 78N3-0164 va chạm với xe gắn máy 78AC-018.08 gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: Nguyễn Võ Nhật D bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến ngày 04/11/2023 D chết trong quá trình điều trị; xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 252/KLGĐTT- PYPY ngày 01/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Võ Nhật D là do: Chấn thương sọ não nặng/Gãy đốt sống cổ C3, C4 (bút lục số 144-145).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 12/5/2020, ngày 01/11/2023 xe bị hư hỏng các bộ phận phải làm lại như mới giá trị 1.220.000 đồng; tài sản đã qua sử dụng 3,5 năm nên giá trị còn lại là: 793.000 đồng (bút lục số 153 -154, 157).
Phần dân sự: Bị cáo Trần Thanh Q đã bồi thường số tiền 80.000.000 đồng cho gia đình người bị hại Nguyễn Võ Nhật D và được đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Võ Nhật D là vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim N1 bãi nại về dân sự.
Vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô biển kiểm soát 78N3-0164 cùng Giấy đăng ký xe mô tô số 0040130 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Thanh T; 01 xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 cùng Giấy đăng ký xe gắn máy số 026057 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu bà Võ Thị Kim N1.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông đang lưu tại hồ sơ vụ án.
- + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 15/6/2016 cho Trần Thanh Q đang lưu tại hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSSC ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Trần Thanh Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa: Khẳng định Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSSC ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Trần Thanh Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, nên giữ nguyên Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSSC ngày 02/8/2024. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh Q từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô biển kiểm soát 78N3-0164 cùng Giấy đăng ký xe mô tô số 0040130 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Thanh T; 01 xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 cùng Giấy đăng ký xe gắn máy số 026057 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu bà Võ Thị Kim N1 nên đề nghị HĐXX không xét.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông đang lưu tại hồ sơ vụ án đề nghị HĐXX tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 15/6/2016 cho Trần Thanh Q đang lưu tại hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo Trần Thanh Q.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Thanh Q đã bồi thường số tiền 80.000.000 đồng cho gia đình người bị hại Nguyễn Võ Nhật D và được đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Võ Nhật D là vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim N1 bãi nại về dân sự và không có yêu cầu gì khác. Nên đề nghị HĐXX không xét.
Đối với Nguyễn Văn S khi xảy ra vụ tai nạn giao thông không bị thương tích, Võ Kỳ P bị thương tích xây xát da nhưng Pho không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Q trình bày: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai gì cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải việc bị cáo đã vi phạm, bị cáo xin hứa sẽ không tái phạm đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thị xã S đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh Q tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với các tài liệu,chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 35 phút ngày 01/11/2023, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Trần Thanh Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78N3-0164 lưu hành theo hướng Đông - Tây đi không đúng phần đường quy định, chạy lấn sang phần đường dành cho phương tiện ngược chiều dẫn đến va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 do em Nguyễn Võ Nhật D điều khiển lưu hành hướng Tây - Đông gây tai nạn làm Nguyễn Võ Nhật D chết trong khi cấp cứu, xe gắn máy 78AC-018.08 hư hỏng với giá trị thiệt hại là 793.000 đồng. Hành vi vi phạm của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do bị cáo thiếu quan sát, dẫn đến tai nạn làm chết một người và thiệt hại về tài sản là lỗi của bị cáo, nên cần xử lý đúng với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện và cùng gia đình khắc phục thiệt hại, được đại diện hợp pháp cho bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bản thân bị cáo trước lúc phạm tội đã tham gia nghĩa vụ quân sự, ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý, do đó không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo.
[4] Do đó, Quyết định truy tố tại Cáo trạng số 45/CT-VKSSC ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan gì cho bị cáo. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xét.
[6 ] Về vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô biển kiểm soát 78N3-0164 cùng giấy đăng ký xe mô tô số 0040130 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Thanh T; 01 xe gắn máy biển kiểm soát 78AC-018.08 cùng giấy đăng ký xe gắn máy số 026057 Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã trả cho chủ sở hữu bà Võ Thị Kim N1 nên HĐXX không xét.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông đang lưu tại hồ sơ vụ án nên HĐXX tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
+ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 15/6/2016 cho Trần Thanh Q đang lưu tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo.
[7] Đối với Nguyễn Văn S khi xảy ra vụ tai nạn giao thông không bị thương tích, Võ Kỳ P bị thương tích xây xát da nhưng Pho không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, xử lý. Nên HĐXX không xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thanh Q.
- - Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự.
- - Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thanh Q cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xét.
3. Về vật chứng vụ án:
- - Trả lại cho bị cáo Trần Thanh Q 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 15/6/2016 mang tên Trần Thanh Q tại Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến vụ tai nạn giao thông đang lưu tại hồ sơ vụ án.
4. Về án phí: Bị cáo Trần Thanh Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ Toạ phiên toà Lò Nhật Chuyên |
Bản án số 36/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN về hình sự
- Số bản án: 36/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Q
