|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 36/2024/DS-ST Ngày: 24-8-2024 V/v “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hạnh
- Bà Bùi Thị Cẩm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Thu – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2023/TLST- DS ngày 25 tháng 12 năm 2023; về “tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 638/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 98/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H (Sau đây viết tắt là H1);
Địa chỉ: Số B Bis N, phường B, Quận A, TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Tấn H - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Q hàng TMCP P, tỉnh Quảng Ngãi
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đặng Huy B – Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H – Đ, Quảng Ngãi.
Địa chỉ: Số C N, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (theo giấy ủy quyền số: 33/2023/UQ-HDB ngày 30/11/2023 của ông Huỳnh Tấn H - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Q hàng TMCP P, tỉnh Quảng Ngãi); ông B có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1989 ; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị B1, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; bà B1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/11/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H đã cho ông Trần Minh T1 vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 5097/21MB/HĐTD ngày 24/3/2021 giải ngân theo khế ước nhận nợ số 5097/21 MB/HĐTD/KUNN01 ngày 25/3/2021; với mục đích vay: tiêu dùng có TSBĐ – Thanh toán tiền mua vật dụng gia đình; thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm. Tuy nhiên sau khi vay ông T1 thực hiện trả gốc, lãi một thời gian sau đó không thực hiện đúng cam kết trả nợ đúng hạn; Ngân hàng đã thông báo đòi nợ nhiều lần nhưng ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Khi vay tiền ông Trần Minh T1 có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 25 phường P, thị xã Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5097/21MB/HĐBĐ ngày 24/03/2021 để đảm bảo khoản vay nêu trên. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
- Yêu cầu ông Trần Minh T1 trả số tiền vay gốc 52.500.000 đồng; tiền lãi trong hạn 500.548 đồng (tính đến hết ngày 23/8/2024) và tiếp tục trả số tiền lãi và phí phát sinh kể từ sau ngày 23/8/2024 đối với số tiền nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp ông Trần Minh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 25 phường P, thị xã Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5097/21MB/HĐBĐ ngày 24/03/2021. Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Minh T1 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Yêu cầu ông Trần Minh T1 phải thanh toán lại cho Ngân hàng chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc) mà Ngân hàng đã tạm ứng, thanh toán xong với tổng số tiền là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Minh T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị B1; nhưng ông T1 và bà B1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Toà án đồng thời cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo qui định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tại phiên tòa:
Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.
Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Trần Minh T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền vay gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 23/8/2024 là 53.000.548 đồng (trong đó nợ gốc: 52.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 500.548 đồng) và bị đơn tiếp tục trả lãi đối với số tiền trên dư nợ gốc sau ngày 23/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến khi ông T1 trả xong khoản nợ trên. Trường hợp ông T1 không trả số tiền nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn là H1 khởi kiện bị đơn ông Trần Minh T1, cư trú ở tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Minh T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị B1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, bà B1.
- Về nội dung tranh chấp:
- Xét hợp đồng tín dụng số 5097/21MB/HĐTD ngày 24/3/2021 ký kết giữa H1 và bị đơn ông Trần Minh T1 với số tiền vay là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay: tiêu dùng có TSBĐ – Thanh toán tiền mua vật dụng gia đình; thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm; Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa H1 và ông Trần Minh T1 đã xác lập hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại Điều 463, 468, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng; nội dung và mục đích hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc lập hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng trình tự của pháp luật về tín dụng ngân hàng. Vì vậy hợp đồng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.
- Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán: Theo trình bày của đương sự và đối chiếu tài liệu nguyên đơn cung cấp có đủ căn cứ xác định: H1 đã giải ngân cho bị đơn ông Trần Minh T1 nhận số tiền vay gốc theo hợp đồng tín dụng với số tiền là 150.000.000đồng. Trong quá trình vay ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận; tính đến hết ngày 23/8/2024 ông Trần Minh T1 còn nợ H1 số tiền nợ gốc là 52.500.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc 52.500.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chưa thanh toán: Từ khi vay cho đến nay ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi đã thoả thuận theo Hợp đồng tín dụng số: 5097/21MB/HĐTD ngày 24/3/2021. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn lại sang nợ quá hạn. Nguyên đơn đã áp dụng nhiều biện pháp thông báo, đôn đốc nhưng bị đơn không trả tiền lãi trong nhiều tháng, nhiều kỳ liên tiếp và các bên không thoả thuận về việc gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Ngân hàng đã chuyển phần dư nợ gốc đến hạn thanh toán của Hợp đồng tín dụng nhưng không được ông T1 thanh toán sang nợ quá hạn. Vì vậy, tổng số tiền lãi tính đến hết ngày 23/8/2024 ông T1 chưa thanh toán cho Ngân hàng nợ lãi vay trong hạn là: 500.548 đồng; ông T1 còn phải chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thoả thuận tại hợp đồng tín dụng số: 5097/21MB/HĐTD ngày 24/3/2021 sau ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong. Vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét Hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
- Về giá trị hiệu lực của Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5097/21MB/HĐBĐ ngày 24/03/2021 đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 25 phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi là tài sản của ông T1. Các bên đương sự đều thừa nhận tại thời điểm thế chấp thửa đất thế chấp thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng hợp pháp của ông Trần Minh T1. Xét thời điểm giao kết Hợp đồng thế chấp, các bên có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện ký kết, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý.
- Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 119 tờ bản đồ số 25 phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5097/21MB/HĐBĐ ngày 24/03/2021. Các bên đương sự thống nhất đây là tài sản bảo đảm cho khoản vay tín dụng; trường hợp bị đơn không trả được nợ thì bị đơn đồng ý giao tài sản để Ngân hàng xử lý thu hồi nợ. Do đó Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp trên trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là có căn cứ chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc nguyên đơn nộp tạm ứng số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) đã thanh toán xong; nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận; buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 7.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ và đo đạc.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng)
- Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, 228, các Điều 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 299, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H. Buộc ông Trần Minh T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền vay gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 23/8/2024 là 53.000.548 đồng (trong đó nợ gốc: 52.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 500.548 đồng). Ông Trần Minh T1 tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 23/8/2024 trên số tiền dư nợ gốc còn lại theo Hợp đồng tín dụng số: 5097/21MB/HĐTD ngày 24/3/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Trường hợp ông Trần Minh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5097/21MB/HĐBĐ ngày 24/03/2021) gồm:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các thửa đất số 119, tờ bản đồ số 25 phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi là tài sản của ông Trần Minh T1.
Nếu số tiền bán tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên lớn hơn khoản nợ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho ông Trần Minh T1.
Nếu số tiền bán tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H thì ông Trần Minh T1 phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H cho đến khi trả xong nợ.
- Về án phí: Ông Trần Minh T1 phải chịu 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.132.000 đồng (hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo biên lai số 0001218 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần Minh T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chổ và đo đạc.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Trung |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 24/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HD yêu cầu Trọng trả nợ vay
