TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST. Ngày: 22/8/2024. V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Đình Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Nguyễn Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huê – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 256/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐ-HPT ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Bà Đoàn Thị Kim T - Sinh năm: 1980.
Trú tại: ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đoàn Thị Kim T: Ông Hồ Quang T1 – Sinh năm: 1974 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
* Bị đơn:
Bà Trần Thị H – Sinh năm: 1978 (Vắng mặt).
Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Đoàn Thị Kim T là ông Hồ Quang T1 trình bày:
Do là chỗ quen biết với nhau nên ngày 09/9/2022 bà Đoàn Thị Kim T có cho bà Trần Thị H vay 265.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 04 tháng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Khi vay tiền, bà Trần Thị H có viết giấy vay tiền, có chữ ký và lăn tay của bà Trần Thị H.
Đến hạn trả nợ theo thỏa thuận, bà H mới trả cho bà T được 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng), số tiền còn lại 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) đến nay bà H vẫn chưa trả cho bà T mặc dù bà T đòi rất nhiều lần.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đoàn Thị Kim T, ông Hồ Quang T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Đoàn Thị Kim T, ông T1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng), tổng cộng cả tiền nợ gốc và lãi là 299.270.400 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
* Bị đơn – Bà Trần Thị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 115; Điều 117; Điều 119; Điều 463; khoản 4 Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim T, buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng và tiền lãi trên số tiền nợ gốc tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 theo mức lãi suất 0,8%/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Đoàn Thị Kim T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng), tổng cộng cả tiền nợ gốc và lãi là 299.270.400 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng). Đây là vụ án dân sự có quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do bị đơn là bà Trần Thị H có địa chỉ cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nên vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về việc vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim T và người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Hồ Quang T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo thủ tục chung.
Bị đơn bà Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
- Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Kim T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy, về hình thức và nội dung của giấy vay tiền có chữ ký và lăn tay của bên vay tiền bà Trần Thị H. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà H nhưng bà H không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Thị Kim T, vì vậy coi như bà H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình trong vụ án này. Vì vậy, giấy vay tiền giữa bà T và bà H là có thật, dựa trên sự thỏa thuận và tự nguyện giữa các bên. Căn cứ quy định tại Điều 115, Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015 thi giấy vay tiền này có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Do bà Đoàn Thị Kim T chỉ khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H trả nợ, không yêu cầu ai phải cùng thực hiện nghĩa vụ cùng bà H, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Tòa án không xác định thêm người tham gia tố tụng khác trong vụ án này.
Đối với số tiền nợ gốc là 265.000.000 đồng, có giấy vay tiền là chứng cứ, bị đơn không cung cấp chứng cứ hoặc lời khai của mình gửi Tòa án về việc phản đối số tiền nợ nguyên đơn yêu cầu. Tuy nhiên, bà T thừa nhận bà H đã trả được cho bà T số tiền là 3.400.000 đồng nên bà T đồng ý trừ số tiền này vào tiền nợ gốc và chỉ yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 261.600.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự định đoạt và tự nguyện của nguyên đơn trong vụ án nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc cho nguyên đơn là 261.600.000 đồng là có căn cứ.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Kim T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền lãi trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy, theo giấy vay tiền có chữ ký và lăn tay của bà Trần Thị H ngày 09/9/2022 thì các bên không ghi lãi suất nên việc bà Đoàn Thị Kim T cho bà Trần Thị H vay tiền thuộc trường hợp vay không có lãi.
Tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì mức lãi suất giới hạn không được vượt quá 20%/năm, như vậy, mức lãi suất được áp dụng trong trường hợp trên là 10%/năm.
Theo quy định của pháp luật thì tiền lãi trên số tiền nợ gốc 261.600.000 đồng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là: 18 tháng x 261.600.000 đồng x 0,8%/01tháng = 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
Từ những phân tích, nhận định tại mục [3.1] và mục [3.2] như trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim T, buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng), tổng cộng cả tiền nợ gốc và lãi là 299.270.400 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đoàn Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.
- Bà Trần Thị H phải chịu 14.963.520 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm hai mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 115, Điều 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Kim T.
Buộc bà Trần Thị H phải trả cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền nợ gốc là 261.600.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) và tiền lãi trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất 0,8%/tháng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến ngày 09/8/2024 là 37.670.400 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng), tổng cộng cả tiền nợ gốc và lãi là 299.270.400 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đoàn Thị Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Đoàn Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005238 ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Bà Trần Thị H phải chịu 14.963.520 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm hai mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- - Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- - Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- - Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CAO ĐÌNH THÀNH |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”
