Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20.8.2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hà

Ông Đặng Ngọc Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Hải – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01.8.2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2024/QĐ-HPT ngày 16.08.2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số K đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: số B H, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng (có mặt)

* Bị đơn: Ông Phan Tiến Đ, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: Số K đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09.4.2024, các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Trần Thị H trình bày:Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Phan Tiến Đ xây dựng gia đình vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ Số K đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do gia đình chồng và chồng có lời lẽ xúc phạm và đánh đập tôi. Đến khoảng đầu năm 2024, tôi và các con đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phan Tiến Đ.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2, sinh ngày 01.10.2009.

Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2, sinh ngày 01.10.2009 cho đến tuổi trưởng thành. Ông Phan Tiến Đ cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000₫ nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết,

Về nợ chung: Bà Trần Thị H xác định không có.

* Về phía bị đơn ông Phan Tiến Đ: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Phan Tiến Đ vẫn không có ý kiến phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với ông Phan Tiến Đ. Giao 02 (hai) con chung Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2, sinh ngày 01.10.2009 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và buộc ông Phan Tiến Đ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 4.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn – bà Trần Thị H khởi kiện “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn – ông Phan Tiến Đ, có địa chỉ: số K đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn – ông Phan Tiến Đ vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Tiến Đ.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Phan Tiến Đ xây dựng gia đình vào năm 2006, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống tại địa chỉ số S đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo bà Trần Thị H xác định do gia đình ông Đ và ông Đ có lời lẽ xúc phạm và đánh đập bà nên bà phải đưa các con chuyển đến nơi khác sinh sống, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm, tình trạng hôn nhân không như mong muốn. Để ổn định cuộc sống, bà Trần Thị H đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Phan Tiến Đ. Còn về phía ông Phan Tiến Đ, tuy Tòa án đã làm các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông Đ vẫn không có ý kiến phản hồi.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng hiện nay ông bà đã sống ly thân. Qua xác minh thì thấy, ông bà thường xuyên cải vả, xô xát nên có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng không còn. Mụcc đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn của bà Trần Thị H là giải pháp hợp lý, phù hợp với các quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà Trần Thị H xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2, sinh ngày 01.10.2009.

Ly hôn, bà Trần Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2,

sinh ngày 01.10.2009. Ông Phan Tiến Đ cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000đ nuôi con.

Xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng một mặt phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của mỗi bên cũng như xem xét tới quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Hiện nay, 02 cháu Phan Trần Nhật Q1 và Phan Trần Nhật Q2 đang học tập và sinh sống ổn định cùng bà Trần Thị H. Về phía ông Phan Tiến Đ, như đã nhận định ở trên, ông không có bất cứ ý kiến phản hồi gì yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, cũng như nuôi con chung. Do đó, để ổn định về mặt tâm lý, không làm xáo trộn cuộc sống của các con sau khi ông bà ly hôn nên cần tiếp tục giao cháu Phan Trần Nhật Q1 và Phan Trần Nhật Q2 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và buộc ông Phan Tiến Đ cấp dưỡng mỗi tháng 4.000.000đ nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị H xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Trần Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự về khoản trợ cấp nuôi con định kỳ 300.000đ ông Phan Tiến Đ phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – bà Trần Thị H đối với bị đơn – ông Phan Tiến Đ.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Phan Tiến Đ.
  2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Phan Trần Nhật Q1, sinh ngày 26.12.2006 và Phan Trần Nhật Q2, sinh ngày 01.10.2009 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Ông Phan Tiến Đ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 4.000.000đ (nuôi một con là 2.000.000₫) cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 09.2024 và vào ngày 15 hàng tháng

Các bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Trần Thị H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà đã nộp theo biên lai thu số 0001243 ngày 27.5.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Án phí dân sự về khoản trợ cấp nuôi con định kỳ 300.000đ ông Phan Tiến Đ phải chịu.

Án xử sơ thẩm, bà Trần Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Ông Phan Tiến Đ vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Các bên đương sự;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - UBND phường Hòa Cường Bắc;
  • - Lưu Hô sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn - bà Trần Thị H và bị đơn - ông Phan Tiến Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger