|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 17 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Đông và bà H’Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Mai Thanh T, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn S và bà Võ Thị Tuyết N; có vợ là Bùi Thị Mai H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - Có mặt.
- Ngô Minh T1, sinh năm 1996, tại tỉnh Đắk Nông; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nhân viên ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ và bà Trần Thị Kim L; có vợ là Hoàng Thị Kim T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại - Có mặt.
- Lữ Xuân T3, sinh năm 1987, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Xuân C và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Hồ Thị Thu D và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - Có mặt.
- Lê Văn M, sinh năm 1993, tại tỉnh Quảng Bình; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi ở hiện tại: Thôn F, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Hà Thị M1 (đều đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - Có mặt.
- Nguyễn Quang C1, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã C, huyện P, Bình Định; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang D1 và bà Nguyễn Thị Kim L1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại - Có mặt.
- Phạm Đình T4, sinh năm 1972, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình S1 (đã chết) và bà Bùi Thị L2; có vợ là Nguyễn Thị L3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - Có mặt.
- Trần Minh C2, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T5 và bà Phan Thị L4; có vợ là Bùi Thị Hồng N1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Chị Bùi Thị Hồng N1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, Mai Thanh T gọi điện thoại cho Trần Minh C2 để tìm người đánh bạc bằng hình thức đánh bài liêng thắng thua bằng tiền tại nhà của C2 thuộc tổ dân phố A, phường N, thành phố G thì C2 đồng ý. Sau đó, C2 gọi Lữ Xuân T3, Nguyễn Quang C1, Ngô Minh T1 đến nhà đánh bạc thì tất cả đồng ý; còn T3 gọi thêm Lê Văn M đến đánh bạc thì M đồng ý. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, T mua 02 lốc bài, loại bài tây đến nhà C2 để chuẩn bị đánh bạc.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T3, C1, M và T1 có mặt đầy đủ tại nhà của C2. Lúc này, C2 nói với T đi qua tiệm tóc của chị Bùi Thị Hồng N1 (sinh năm 1996, là vợ của C2) đánh chứ trong nhà có con nhỏ. Nói xong, C2 đi qua tiệm tóc lấy chiếu nhựa và tấm vải trải xuống giữa phòng để T, T3, C1, T1 đánh bạc, còn C2, M không tham gia. C1 đánh được khoảng 30 phút thì thua hết tiền nên nghỉ đi về. Sau khi C1 nghỉ, M vào ngồi thay vị trí của C1 để đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì T1 gọi thêm Phạm Đình T4 đến cùng đánh bạc. Các bị cáo thống nhất mỗi ván chơi nếu bài người nào có “sáp” thì sẽ “xâu” số tiền 100.000₫ để đưa cho C2, quá trình đánh bạc thì T1 và T4 có 02 ván bài “sáp” nên đã bỏ ra mỗi người 100.000đ tiền “xâu”, tiền xâu thu được là 200.000đ. Số tiền này các bị cáo chưa đưa cho C2.
Hình thức đánh bạc và mức cược của các con bạc như sau: Sử dụng 01 bộ bài tây loại 52 lá chia cho mỗi người 03 lá bài, trước khi lên bài người chia bài (gọi là nhà cái) đặt 200.000₫ ra giữa sòng bạc gọi là tiền “đậu nước”, còn mỗi người chơi chỉ đặt số tiền 100.000đ, tiếp theo mọi người sẽ lên bài của mình và đánh theo vòng bắt đầu từ người kế bên tay phải của người chia bài, những người này có quyền bỏ bài, theo bài hoặc tố thêm, nếu theo thì phải bỏ số tiền 200.000đ, nếu muốn tố thêm thì bỏ đủ số tiền 200.000đ và tố thêm số tiền mình muốn tố nhưng không được cao hơn số tiền 2.000.000đ, cứ lần lượt đến vòng người chơi có quyền theo, tố thêm hoặc bỏ bài. Nếu khi các “nhà con” lên bài xong mà bỏ bài không ai theo thì “nhà cái” sẽ thắng hết số tiền đậu nước, nếu có người tố thêm tiền mà không có ai theo thì người tố thêm sẽ thắng hết số tiền trên sòng, nếu có người tố thêm mà có người theo số tiền tố thêm thì sẽ lật bài lên để xác định bài cao hơn sẽ thắng. Cách tính bài cao thấp như sau: Bài cao nhất là bài sáp tức là có 03 lá bài giống nhau (222 hoặc AAA) trong sáp thì sáp AAA cao nhất lần lượt xuống KKK, QQQ...222; tiếp đến là bài liêng tức có 03 cây bài liên tiếp (2, 3, 4 hoặc 9, 10, J) trong liêng thì Q, K, A cao nhất lần lượt xuống A, 2, 3 thấp nhất, nếu có cùng liêng với nhau thì sẽ tính chất lá bài cơ, rô, chuồn, bích để phân định cao thấp; tiếp đến ba tiên tức là có 03 cây bài J, Q, hoặc K nhưng không liên tiếp (J, J, K hoặc Q, Q, K) nếu có cùng bài ba tiên thì sẽ tính chất lá bài cơ, rô, chuồn, bích để phân định cao thấp; tiếp đến tính điểm, tức là tính cộng điểm các lá bài lại với nhau, các lá bài 10, J, Q, K, thì được tính là 10 điểm còn lại các lá bài từ 09 xuống đến A thì tính điểm tương ứng với lá bài, trong điểm thì 09 điểm cao nhất, dần xuống đến 0 điểm (0 điểm tức là cộng các lá bài với nhau có tổng điểm là 10, 20 hoặc 30) nếu có cùng điểm với nhau thì sẽ tính chất lá bài cơ, rô, chuồn, bích để phân định cao thấp.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày khi T, T3, M, T4, T1 đang đánh bạc thì bị Công an thành phố G bắt quả tang. T, T3, M, T4, C2 bị bắt tại chỗ. Còn T1 bỏ chạy sau đó đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G đầu thú.
Kết quả điều tra xác định được: Ngô Minh T1 đem theo và sử dụng số tiền 5.000.000đ vào mục đích đánh bạc; Mai Thanh T đem theo và sử dụng số tiền 3.600.000₫ vào mục đích đánh bạc; Lữ Xuân T3 đem theo và sử dụng số tiền 2.600.000đ vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Quang C1 đem theo và sử dụng số tiền 2.000.000đ vào mục đích đánh bạc; Lê Văn M đem theo và sử dụng số tiền 2.500.000₫ vào mục đích đánh bạc; Phạm Đình T4 đem theo 4.200.000₫ và sử dụng số tiền 1.000.000₫ vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.700.000đ.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro thu giữ của Trần Minh C2.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy S8+ và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia bàn phím thu giữ của Phạm Đình T4.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 thu giữ của Lê Văn M.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12, màu tím thu giữ của Mai Thanh T.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52 thu giữ của Lữ Xuân T3.
- 02 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng.
- Tiền Ngân hàng N2 16.700.000đ thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp.
- Tiền Ngân hàng N2 tạm giữ trên người của Phạm Đình T4 3.200.000₫.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-GN ngày 14/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mai Thanh T từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Minh T1 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lữ Xuân T3 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C1 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Đình T4 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh C2 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây là công cụ phạm tội.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 16.700.000đ dùng vào việc phạm tội.
- Đề nghị chấp nhận ngày 08/3/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 263/QĐ- ĐTTH trả lại 07 điện thoại di động cho các bị cáo Mai Thanh T, Lữ Xuân T3, Trần Minh C2, Phạm Đình T4 và Lê Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại số tiền 3.200.000đ cho Phạm Đình T4 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Các bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Do ý thức coi thường pháp luật nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2024 đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, tại tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 đã cùng nhau đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức liêng tố, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 16.700.000 đồng.
Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo: Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét tính chất vụ án do các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 gây ra là ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an tại địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng như tình hình chung trong xã hội. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tuy nhiên, trong vụ án các bị cáo tham gia với vai trò, tính chất, mức độ khác nhau và có nhân thân khác nhau, nên cần có sự phân hóa để áp dụng hình phạt tương xứng với từng bị cáo để đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, cụ thể: Đối với bị cáo Mai Thanh T là người khởi sướng, rủ rê bị cáo C2 nhờ bị cáo C2 tìm người đánh bạc, chuẩn bị bài để đánh bạc và sử dụng 3.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Ngô Minh T1 là người rủ thêm bị cáo T4 đến tham gia đánh bạc và sử dụng 5.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, nhiều nhất so với các bị cáo khác. Bị cáo Lữ Xuân T3 là người rủ thêm bị cáo M đến tham gia đánh bạc và sử dụng 2.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Lê Văn M sử dụng 2.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Quang C1 sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc và có thời gian đánh bạc ít nhất. Bị cáo Phạm Đình T4 sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, ít nhất so với các bị cáo khác. Bị cáo Trần Minh C2 mặc dù không trực tiếp đánh bạc với các bị cáo trong vụ àn này nhưng có hành vi giúp sức cho các bị cáo khác, là người rủ các bị cáo T3, C1, T1 đến đánh bạc, chuẩn bị địa điểm, chiếu, tấm vải và thu tiền xâu.
Xét vai trò, tính chất, mức độ và nhân thân của các bị cáo, cần xử phạt bị cáo T mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Xử phạt bị cáo T1 mức hình phạt thấp hơn bị cáo T và cao hơn các bị cáo khác. Xử phạt các bị cáo T3, M, C1, T4, C2 mức hình phạt ngang nhau và thấp hơn các bị cáo khác. Các bị cáo đều có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản nên cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho tất cả các bị cáo.
Bị cáo Phạm Đình T4 có bố là người có công với cách mạng, bị cáo có thời gian hoạt động trong quân ngũ, trong quá trình công tác được Cục trưởng cục thuế tỉnh Đ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C tặng Giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác Thuế năm 2015, 2020. Bị cáo Lê Văn M có bố là người có công với cách mạng. Bị cáo Trần Minh C2 có ông nội là người có công với cách mạng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Ngô Minh T1 đã tự nguyện đến Công an đầu thú về hành vi của mình, trong quá trình công tác được Giám đốc Công an tỉnh Đ tặng Giấy khen theo Quyết định số 193/QĐ-CAT-PX15 ngày 15/6/2016.
Vì vậy, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T4, T1, M, C2.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 02 bộ bài tây là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 16.700.000đ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Ngày 08/3/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 263/QĐ- ĐTTH trả lại 07 điện thoại di động cho các bị cáo Mai Thanh T, Lữ Xuân T3, Trần Minh C2, Phạm Đình T4 và Lê Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần chấp nhận.
- Đối với số tiền 3.200.000đ của Phạm Đình T4 do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Phạm Đình T4.
[7] Đối với chị Bùi Thị Hồng N1, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định N1 không bàn bạc, thống nhất cho các bị cáo đánh bạc tại nhà của mình, N1 không biết các bị cáo sử dụng nhà của chị N1 để đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị Bùi Thị Hồng N1 là có căn cứ.
[8] Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát, là có căn cứ cần chấp nhận.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mai Thanh T 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Minh T1 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lữ Xuân T3 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn M 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C1 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Đình T4 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh C2 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây là công cụ phạm tội.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 16.700.000₫ (Mười sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) dùng vào việc phạm tội.
- Chấp nhận ngày 08/3/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 263/QĐ- ĐTTH trả lại 07 điện thoại di động cho các bị cáo Mai Thanh T, Lữ Xuân T3, Trần Minh C2, Phạm Đình T4 và Lê Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại số tiền 3.200.000₫ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) cho Phạm Đình T4 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Số tiền trên đã được chuyển vào tài khoản số 3949.0.1036409.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa theo Ủy nhiệm chi ngày 21/5/2024 tại Kho bạc Nhà nước Đ1).
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao vật chứng ngày 20/5/2024 giữa Công an thành phố G và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Mai Thanh T, Ngô Minh T1, Lữ Xuân T3, Lê Văn M, Nguyễn Quang C1, Phạm Đình T4 và Trần Minh C2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hồng |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về đánh bạc (hình sự)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Mai Thanh T và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc”
