Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 27-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Luân Văn Tuân;

Bà Lương Thị Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Ba Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lộc Văn T; sinh ngày 16 tháng 01 năm 1988, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Giang S (L) (đã chết) và bà Đinh Thị L; có vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1988; có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  2. Lộc Văn T1, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1985, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn S1 và bà Lộc Thị M; có vợ: Hà Thị T2, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  3. Vy Văn Đ, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1986, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vy Văn L1 và bà Phù Thị P; có vợ: Lăng Thị L2, sinh năm 1984; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  4. Nông Văn T3; sinh ngày 12 tháng 9 năm 1966, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Đ1 và bà Trương Thị N1 (đều đã chết); có vợ: Nông Thị Đ2, sinh năm 1966; có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1992; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  5. Lộc Văn C; sinh ngày 01 tháng 9 năm 1984, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn T4 (đã chết) và bà Lương Thị T5; có vợ: Lý Thị E, sinh năm 1982; có 01 con, sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  6. Lộc Viết H; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1964, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Minh H1 (Lục Minh H2) và bà Mông Thị T6 (đã chết); có vợ: Phương Thị V, sinh năm 1968; có 03 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1995; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  7. Lăng A K; sinh ngày 02 tháng 10 năm 1971, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu B, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Tiến V1 và bà Nông Dục C1 (đều đã chết); có vợ: Phùng Thị V2, sinh năm 1974; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 18/02/2024, đến ngày 27/02/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lộc Văn C: Bà Lương Thị Hương L3, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vy Văn Đ: Ông Mai Xuân T7, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn T8; chị Hoàng Thị D. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 17/02/2024, tổ công tác Công an huyện V chủ trì phối hợp cùng Công an thị trấn N, Công an xã T, làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra phát hiện tại nhà Lộc Văn T, tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, có 07 đối tượng đang đánh bạc ăn tiền dưới hình thức “đánh quăn” bao gồm: Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H, Lăng A K1. Thu giữ trên bàn nơi các đối tượng đang đánh bạc tổng số tiền 7.427.000 đồng. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã T, huyện V, để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang

Đồ vật, tài liệu thu giữ gồm: 7.427.000 đồng; 120 quân vị được cắt đôi từ các lá bài tú lơ khơ; 01 bàn gỗ tròn màu nâu; 07 ghế nhựa có tựa lưng màu xanh (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 17/02/2024, Lộc Văn T đang ở nhà thì có Vy Văn Đ đến nhà Lộc Văn T chúc tết, khoảng nửa tiếng sau có Nông Văn T3 đi cùng Lộc Viết H và Lăng A K1 đến chúc tết, tiếp đó khoảng 20 phút sau có Lộc Văn T1 đi cùng Lộc Văn C cũng đến chúc tết nhà Lộc Văn T, mọi người cùng nhau ngồi nói chuyện, sau đó Lộc Văn T mời tất cả ở lại ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong mọi người thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ đã cũ ở dưới bàn, nên cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức “đánh quăn”, mỗi ván được 10.000 đồng, Luân Văn T9 bỏ ra số tiền khoảng 700.000 đồng, Lộc Văn T1 bỏ ra khoảng 400.000 đồng, Vy Văn Đ bỏ ra khoảng 2.350.000 đồng, Nông Văn T3 bỏ ra khoảng 1.400.000 đồng, Lộc Văn C bỏ ra khoảng 300.000 đồng, Lộc Viết H bỏ ra khoảng 1.660.000 đồng, Lăng A K1 bỏ ra khoảng 600.000 đồng, tất cả đều bỏ tiền ra với mục đích để đánh bạc, khi đánh bạc mọi người đều để toàn bộ số tiền ở trên bàn trước mặt. Hình thức “đánh quăn” là sử dụng hai bộ bài tú lơ khơ (cắt dọc quân bài), bỏ hết chất cơ, bỏ quân 10 J Q K chất bích, nhép và quân 10 chất rô được 120 quân bài vị. Khi chơi bộ bài gồm 120 quân được xáo trộn sau đó đặt lên bàn, lần lượt từng người chơi bốc cho đến khi đủ 09 quân bài, người chơi bốc đầu tiên sẽ được bốc 10 quân và đánh trước cho người bên phải, lần lượt theo chiều ngược kim đồng hồ. Người bên cạnh nếu ăn được quân bài người đánh trước đánh ra (điều kiện để ăn được quân bài là nếu quân bài người đánh trước đánh ra kết hợp với những quân bài trên tay mình tạo thành phỏm, một phỏm gồm 03 hoặc 04 quân bài cùng số, cùng chất hoặc là 03 quân bài có cùng chất có dãy số liên tục) lúc này người chơi không được bốc thêm quân bài mà đánh một quân bài trên tay mình cho người tiếp theo (trường hợp chưa đủ 03 phỏm), nếu không ăn được quân bài do người trước đánh ra thì người chơi bốc một quân bài và tiếp tục đánh quân bài bất kỳ do người chơi quyết định cho người bên cạnh. Ván bài kết thúc khi có một người chơi “ù” (có đủ 03 phỏm bài, trường hợp người chơi ăn được quân bài do người chơi trước đánh ra mà đủ 03 phỏm thì sẽ tiếp tục đánh một quân bài cho người bên cạnh sau đó hạ ván bài). Những người chơi đặt cược tiền tùy thuộc vào người chơi tự quy định với nhau. Mỗi ván bài “đánh quăn” không được quá 07 người chơi.

Sau khi đánh bạc được nhiều ván, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên bàn đánh bạc tổng số tiền 7.427.000 đồng. Tổ công tác đã đưa tất cả 07 người cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật theo qui định.

Kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 15/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H và Lăng A K1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H và Lăng A K1 phạm tội Đánh bạc. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Viết H; áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vy Văn Đ, Nông Văn T3 và Lăng A K1; áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C. Đề nghị xử phạt bị cáo Lộc Văn T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Lộc Viết H và Nông Văn T3 từ 07 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Vy Văn Đ từ 08 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Lăng A K1 từ 06 đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Lộc Văn T1 và Lộc Văn C từ 06 đến 08 tháng cải tạo không giam giữ (các bị cáo được trừ đi 09 ngày tạm giữ bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Lộc Viết H, Nông Văn T3, Lăng A K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn án phí cho các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C, theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 7.427.000 đồng và tịch thu, tiêu hủy gồm: 120 quân vị được cắt đôi từ các lá bài tú lơ khơ và 01 bàn gỗ tròn màu nâu; 07 ghế nhựa có tựa lưng màu xanh (do đã cũ, hỏng).

Người bào chữa cho bị cáo Lộc Văn C: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do ham vui, sử dụng số tiền đánh bạc ít, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ với mức thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo đề nghị không áp dụng phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Vy Văn Đ: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh. Về hình phạt bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 02 con nhỏ, lao động chính trong gia đình, là tình tiết giảm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đủ điều kiện theo Nghị quyết số 02/2018 hướng dẫn về án treo, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án thấp của khung hình phạt cho hưởng án treo. Gia đình thuộc hộ cận nghèo đề nghị không áp dụng phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo Vy Văn Đ.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với người bào chữa, bị cáo Vy Văn Đ sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đã được trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự Viện kiểm sát không chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Lời nói sau cùng, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H và Lăng A K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản sự việc, vật chứng đã thu giữ và hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 17/02/2024, tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ phát hiện tại nhà Lộc Văn T, tại thôn B, xã T, huyện V, có 07 đối tượng có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “đánh quăn” số tiền sử dụng vào việc bạc là 7.427.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H và Lăng A K1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lộc Văn T có bố bị cáo là ông Lộc Giang S (Lục Giang S2) có Huân chương kháng chiến, bị cáo Lộc Viết H có bố bị cáo là ông Lộc Minh H1 (Lục Minh H2) có Huân chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng cũng cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung, đây là vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm, phân hóa vai trò của từng bị cáo với số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc và nhân thân các tình tiết tăng nặng, giản nhẹ để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo, cụ thể bị cáo Lộc Văn T sử dụng số tiền khoảng 700.000 đồng, Lộc Văn T1 sử dụng số tiền khoảng 400.000 đồng, Vy Văn Đ sử dụng số tiền khoảng 2.350.000 đồng, Nông Văn T3 sử dụng số tiền khoảng 1.400.000 đồng, Lộc Văn C sử dụng số tiền khoảng 300.000 đồng, Lộc Viết H sử dụng số tiền khoảng 1.660.000 đồng, Lăng A K1 sử dụng số tiền khoảng 600.000 đồng, để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.427.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật, nên không cần cách ly các bị cáo bị cáo Lộc Văn T, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Viết H và Lăng A K1 ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao các bị cáo Lộc Văn T, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Viết H và Lăng A K1 cho chính quyền địa nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, cũng có thể cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt; đối với các bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C có nhân thân tốt phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sử dụng số tiền đánh bạc ít, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C cho chính quyền địa nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo, cũng có thể cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt. Vì vậy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C đề nghị mức án đối với các bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo nghề nghiệp đều là làm ruộng, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập thấp, các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo, các bị cáo không có tài sản gì, khó thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[7] Đối với bị cáo Lộc Văn T sử dụng nhà ở của bị cáo để cho các bị cáo khác cùng đánh bạc, nhưng bị cáo Lộc Văn T không thu, không được hưởng lợi gì từ tiền đánh bạc, nên không có căn cứ xử lý bị cáo Lộc Văn T về hành vi chứa chấp.

[8] Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền thu giữ trên bàn đánh bạc 7.427.000 đồng, là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 120 quân vị được cắt đôi từ các lá bài tú lơ khơ, là công cụ dùng để đánh bạc; đối với 01 bàn gỗ tròn màu nâu; 07 ghế nhựa có tựa lưng màu xanh, là phương tiện dùng để đánh bạc, đã cũ, hỏng, không có giá trị. Tịch thu, tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo và các bị cáo có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí cho các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Viết H.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vy Văn Đ, Nông Văn T3 và Lăng A K1.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Vy Văn Đ, Nông Văn T3, Lộc Văn C, Lộc Viết H và Lăng A K1 phạm tội: Đánh bạc.

2. Về hình phạt chính:

  1. Xử phạt bị cáo Lộc Văn T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lộc Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  2. Xử phạt bị cáo Lộc Viết H 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lộc Viết H cho Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  3. Xử phạt bị cáo Vy Văn Đ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vy Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  4. Xử phạt bị cáo Nông Văn T3 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nông Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  5. Xử phạt bị cáo Lăng A K1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lăng A K1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Xử phạt bị cáo Lộc Văn T1 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 09 (chín) ngày tạm giữ, tạm giam bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải thi hành tiếp 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được Quyết định thi hành án.
  2. Xử phạt bị cáo Lộc Văn C 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 09 (chín) ngày tạm giữ, tạm giam bằng 27 (hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải thi hành tiếp 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhận được Quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lộc Văn T1, Lộc Văn C.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 7.427.000 (bảy triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

4.2. Tịch thu tiêu hủy gồm: 120 (một trăm hai mươi) quân vị được cắt đôi từ các lá bài tú lơ khơ và 01 (một) bàn gỗ tròn màu nâu; 07 (bảy) ghế nhựa có tựa lưng màu xanh (đã cũ, hỏng).

(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/4/2024 và Lệnh thanh toán ngày 15/4/2024).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Lộc Văn T, Lộc Văn T1, Nông Văn T3, Lộc Viết H và Lăng A K1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Vy Văn Đ, Lộc Văn C.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Văn Lãng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lộc Văn T và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger