TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/ HNGĐ - ST
Ngày: 26/4/2024
V/v: “ Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thưởng
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị S - Sinh năm 1987;
Nơi đăng ký cư trú: SN C đường K, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiên nay: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Trương Văn H – Sinh năm 1982;
Nơi đăng ký cư trú: SN C đường K, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị S trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Văn H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào tháng 01 năm 2016, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán của địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn thì chúng tôi sống tại số nhà C đường K, Phường Đ, TP, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng là vào năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm, không hòa hợp, anh H1 thường xuyên chửi bới và đánh đập chị thậm tệ. Mặc dù được hai bên gia đình dàn xếp, chính quyền khu phố hòa giải, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện được và vào tháng 8 năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng anh H1 đuổi đánh chị về nhà ngoại, cũng từ đây vợ chồng ly thân cho đến nay.
Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
- Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017 và Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020.
Thời gian đầu ly thân chị đã đem cháu Trương Lê Thái S1 theo cùng, nhưng do anh H1 lắp định vị xe máy của chị, nên anh H1 lại đến để đưa cháu Trương Lê Thái S1 về, không cho cháu ở cùng với chị, thậm chí anh H1 còn thay khỏa cửa không cho chị về thăm con, Nhưng sau đó do các con có nguyện vọng được mẹ về để dạy học cho các con, nên anh H1 mới đồng ý cho chị cuối tuần về thăm con.
Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và yêu cầu anh Trương Văn H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Hiện nay chị làm nghề lao động tự do, buôn bán hoa quả. Thu nhập mỗi hàng khoảng từ 10 đến 15 triệu đồng.
- Về tài sản, công nợ: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai và hòa giải anh Trương Văn H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh cũng đồng ý như ý kiến của chị Lê Thị S trình bày về thời điểm, điều kiện kết hôn. Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn không như chị S trình bày mà nguyên nhân là do tôi không tin tưởng chị S và nghi ngờ chị S có quan hệ với người đàn ông khác. Tôi có đánh chị S nhưng không đuổi chị S về ngoại mà do chị S tự nguyện bỏ về nhà ngoại.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn kéo dài trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị S đề nghị giải quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị Lê Thị S có 02 con chung là Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017 và Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020. Hiện tại 02 con đang ở với anh trên đất và ngôi nhà vợ chồng xây dựng, nhưng chưa có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
Hiện nay anh đang làm cả hai công ty, thu nhập mỗi tháng khoảng hơn 33 triệu đồng và anh chỉ nắm vị trí giám đốc và phó tổng giám đốc công ty với chức năng đi tìm việc cho công ty còn mọi hoạt động là người khác điều hành, phạm vi tìm việc trong tỉnh, thậm chí có cả dự án ngoài tỉnh.
Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu chị S cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ: Anh Trương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương:
Anh Trương Văn H và chị Lê Thị S về cư trú tại phố H, phường Đ từ khoảng 10 năm nay, tại ngôi nhà cấp 4 lợp tôn, trên diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây anh H, chị S cùng 02 con chung sống tại địa phương, nhưng từ khoảng từ tháng 8 năm 2023 đến nay thì chị S đã bỏ về quê sống cùng bố. mẹ đẻ tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống anh chị sảy ra mâu thuẫn và rất nhiều lần chính quyền địa phương phải giải quyết.
Hiện cả hai vợ chồng đều là lao động tự do còn có tham gia làm việc cho công ty nào hay không thì chính quyền địa phương không nắm được, chị S bán hoa quả trên địa bàn tại địa phương.
Quá trình nuôi con tại địa phương thì cả hai anh chị đều có trách nhiệm với con và đều có đủ khả năng để nuôi con. Thi thoảng thấy anh H có đi làm ăn xa một thời gian ngắn rồi lại về, không thấy anh H có bạo lực với con cái. Mặt khác anh H cũng rất có trách nhiệm trong việc đưa đón con đi học.
Về tài sản, công nợ: Chính quyền địa phương không nắm bắt được anh, chị có những tài sản gì và có công nợ với ai hay không.
Nay chị S khởi kiện xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con. Chị S không đồng ý cho anh H được trực tiếp nuôi con, vì anh H có tính vũ phu thường xuyên đánh vợ, đánh con và hiện nay Công an Phường Đ đã trình cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh Trương Văn H về hành vi Xâm hại sức khỏe thành viên trong gia đình
Anh H cũng đồng ý ly hôn và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con.
Ý kiến của đại diện VKS:
Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX:
Áp dụng:
- Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ . Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị S được ly hôn anh Trương Văn H.
Về con chung: Chị Lê Thị S và anh Trương Văn H có 02 con chung là Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017 và Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020.
Ly hôn, giao cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020 và giao cho anh Trương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017.
Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung .
Anh H, chị S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: Anh H, chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;
- Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000₫;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị S và anh Trương Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống anh, chị sảy ra mâu thuẫn, nên anh, chị đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2022 đến nay. Nay cả hai anh chị đều xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật HNGĐ xử cho chị Lê Thị S được ly hôn anh Trương Văn H.
[3] Về con chung:
Anh Trương Văn H và chị Lê Thị S có 02 con chung là Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017 và Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020.
Ly hôn cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của cả hai anh chị đều hoàn toàn chính đáng. Song việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện mọi mặt của mỗi bên để đảm bảo cho việc chăm sóc dạy dỗ các cháu.
Tuy quá trình giải quyết vụ án, chị S cho rằng anh H có tính vũ phu đánh vợ, đánh con và hiện nay Công an Phường Đ đã trình cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh Trương Văn H về hành vi Xâm hại sức khỏe thành viên trong gia đình ( hành vi đánh chị S sảy ra vào ngày 21/3/2024), theo Thông báo số 02/TB-CAP ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Công an Phường Đ, Thành phố T, nên chị S không đồng ý cho anh H nuôi con.
Nhưng qua xác minh tại địa phương thì quá trình nuôi con tại địa phương, cả hai anh chị đều có trách nhiệm với con và đều có đủ khả năng để nuôi con và anh H cũng rất có trách nhiệm trong việc đưa đón con đi học. Mặt khác ý kiến của anh H thì việc đánh cháu Trương Lê Tấn P là do cháu đến trường không chịu học hành, vi phạm nội quy của lớp, của nhà trường, nên cô giáo chủ nhiệm gọi điện trao đổi với anh. Do đó anh có đánh cháu Trương Lê Tấn P một lần để dạy dỗ chứ không phải dùng bạo lực hoặc có ý gì khác đối với cháu Trương Lê Tấn P.
Ngoài ra, tại bản khai cháu Trương Lê Tấn P có nguyện vọng được ở với bố, nếu bố mẹ cháu ly hôn.
HĐXX xét thấy:
Anh Trương Văn H và chị Lê Thị S đều có sức khỏe, có công việc và có thu nhập. Anh H hiện đang ở trên ngôi nhà của vợ chồng, trên diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn chị S đã về ở cùng với bố, mẹ tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, trên diện tích nhà và đất rất rộng và ông bà cũng đồng ý nếu chị S ly hôn thì cho mẹ con chị S về ở cùng.Do đó cả hai anh chị đều có đủ điều kiện để nuôi con.
Cháu Trương Lê Tấn Phát h đang ở với anh H và theo học tại trường tiểu học trên địa bàn phường Đ. Vì vậy để tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt và việc học hành của cháu thì cần giao cháu Trương Lê Tấn P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với cháu Trương Lê Thái S1, hiện nay đang còn rất nhỏ, chưa đủ 04 tuổi, nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó cần giao cháu Trương Lê Thái S1 cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng.
Do đó HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020 và giao cho anh Trương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H, chị S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;
[4] Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 56; Điều 81; 82, 83; 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điểm a Khoản 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị S được ly hôn anh Trương Văn H.
- Về nuôi con chung: Chị Lê Thị S và anh Trương Văn H có 02 con chung là Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017 và Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020.
Ly hôn, giao cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Thái S1, sinh ngày 19/8/2020 và giao cho anh Trương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Lê Tấn P, sinh ngày 06/02/2017. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H, chị S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;
- Về tài sản, công nợ: Chị Lê Thị S và anh Trương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001027 ngày 08/12/2023 của Chi cục THADS thành phố T ( Chị S đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị S và anh Trương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP Thanh Hoá; - Chi cục THADS TP Thanh Hoá; - UBND xã Thiệu Duy, huyện Thiệu Hóa; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 36/2024/ HNGĐ - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 36/2024/ HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
