|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/5/2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hường và bà Vũ Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 49/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị X, sinh năm 1990
HKTT: Thôn Bùi, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: 511 West Coast Dr#04-337 120511, Singapore
Hộ chiếu số N1572147 do Văn phòng K tại Đ cấp ngày 02/7/2015
Bị đơn: Bị đơn: Anh Nguyễn Quyết T, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/4/2023.
(Chị X, anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Quyết T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/9/2012 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn tại địa phương. Tuy nhiên vợ chồng sống chung với nhau trong khoảng thời gian ngắn thì chị đưa con về sống tại nhà bố mẹ đẻ, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2014, vì hoàn cảnh kinh tế, chị đi xuất khẩu lao động tại Singapore, đến nay đã nhiều năm vợ chồng không được ở gần nhau, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, có chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/9/2012, hiện đang ở với bố mẹ đẻ của chị X. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu A và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị X đang sinh sống và làm việc tại Singapore không thể về Việt Nam tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn với anh T tại Tòa án được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị. Chị ủy quyền cho ông Lê Văn B giao nhận các tài liệu, văn bản liên quan đến việc ly hôn và có trách nhiệm tống đạt các văn bản trên cho chị X.
Tại bản tự khai và đơn đề nghị xử vắng mặt, bị đơn là anh T trình bày:
Anh xác định thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị X trình bày là đúng, vì cuộc sống chị phải đi làm ăn sinh sống tại Singapore. Do tính tình không hợp nhau, thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể tìm ra được tiếng nói chung. Chị X xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh T xác nhận lời trình bày của chị X về con chung là đúng. Ly hôn chị X có mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh có nghĩa vụ cấp dưỡng, anh đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị X không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn trình bày ý kiến đề ngày 06/5/2024 của cháu Nguyễn Việt A trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Quyết T và mẹ Đặng Thị X. Khi bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với mẹ là Đặng Thị X.
Do vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến, trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Quyết T. Giao cho chị Đặng Thị X được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Việt A, anh Nguyễn Quyết T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị X và anh T đều có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 228, Điều 238 BLTTDS năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân chính cũng là do thời kỳ trước hôn nhân hai bên không tìm hiểu về tính cách cũng như tâm tư tình cảm của nhau, mặt khác vợ chồng lại sống xa cách nhau, mỗi người một nơi nên không có tiếng nói chung và không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân của chị X và anh T không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh, chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Chị X xin ly hôn anh T là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X.
[3] Về con chung: Chị X và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/9/2012, hiện đang học tập và sinh sống cùng bố mẹ đẻ của chị X tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị X và anh T đều có nguyện vọng giao cháu Việt A cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, môi trường học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao con chung cho chị X nuôi dưỡng là phù hợp, chị X không yêu cầu anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là sự tự nguyện nên cần chấp nhận. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.
[4] Về tài sản chung: Chị X và anh T đều xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự. khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; NQ 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị X được ly hôn anh Nguyễn Quyết T.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/9/2012 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản; Vấn đề thay đổi người nuôi con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung được đặt giải quyết khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị X đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000151 ngày 08 tháng 4 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Chị X vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
4
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
