|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày 20/5/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
Ông Nguyễn Xuân Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1983 (đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở hiện tại: Thôn H, xã T, huyện L, Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1981 (đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T1 kết hôn ngày 22/6/2020 trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L. Hai người sống hạnh phúc một thời gian và đã có 01 con chung: Cháu Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là: Từ tháng 6 năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do chị và anh T1 không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Từ thời điểm đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm và không có trách nhiệm gì với nhau. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
- Về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung là cháu Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023. Cháu B còn nhỏ, đang ở cùng chị và do chị trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Chị hiện làm lao động tự do tại địa phương, mức lương 5.000.000 đồng/tháng. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu B.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn như chị T trình bày là đúng.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do: Chị T tự ý bỏ về nhà bố mẹ nuôi ở thôn H, xã T từ khoảng tháng 4/2022, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể về chung sống cùng nhau nên anh nhất trí ly hôn chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung như chị T trình bày là đúng. Anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Đức B.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa hôm nay, chị T và anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều: 51, 55, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình 2024; các Điều: 28, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Trần Văn T1.
Về con chung: Giao cháu Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023 cho chị Hoàng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản: Chị T và anh T1 không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là thành viên hộ nghèo.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị giải quyết ly hôn và con chung với anh Trần Văn T1 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Anh Trần Văn T1 là bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Trần Văn T1 kết hôn năm 2020, trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau và tự nguyện đang ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Chị T và anh T1 có hai 01 chung là cháu Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do từ tháng 4 năm 2023 chị T và anh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Từ đó đến nay chị T và anh T1 đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải vận động chị T và anh T1 về chung sống nhưng không có kết quả. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải để các bên về đoàn tụ, nhưng chị T vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh T1 có ý kiến trình bày tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.
[2.3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023. Hiện tại cháu B còn nhỏ, cân sự chăm sóc của người mẹ, cháu đang được chị T trực tiếp chăm sóc. Anh T1 đồng ý để chị T nuôi dưỡng con chung. Do đó, cần giao cho chị T trực tiếp nuôi con Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023. Anh T1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì lợi ích của người con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc cấp dưỡng nuôi con, nếu sau này các đương sự có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị T được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm do là thành viên hộ nghèo. Hoàn trả lại chị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007972 ngày 06/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 55, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình;
Đ a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều: 28, 147; 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Trần Văn T1.
2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi con Trần Đức B, sinh ngày 07/02/2023. Sau khi ly hôn anh Trần Văn T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hoàng Thị T. Hoàn trả chị Hoàng Thị T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007972 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn T1, chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Tiến Chỉnh Nguyễn Xuân Chung |
Giáp Thị Loan |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ vụ T-T1
