TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2024
V/v Xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K' My Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
- K' Đào;
- Ông Đào Duy Trâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 02-4-2024 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 25-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Ông Bùi Xuân V, sinh năm 1971
- Địa chỉ: Số F thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
- + Bị đơn: Bà Chu Thị T, sinh năm 1986.
- Địa chỉ trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa ông V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà T tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2013, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ tháng 6 năm 2016 bà T bỏ nhà đi biệt tích đến nay, hiện nay ông không biết bà T ở đâu còn sống hay đã chết. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, ông đã làm đơn yêu cầu tuyên bố bà T mất tích được Toà án giải quyết tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 26-7-2023. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung tên Bùi Thị Quỳnh A, sinh ngày 22-8-2013, hiện con đang sống cùng ông. Khi ly hôn ông xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Chu Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 26-7-2023 và tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử tại UBND xã Đ
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông V được ly hôn bà T, giao con chung cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng, tài sản chung không có.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Chu Thị T đã được Toà án tuyên bố mất tích tại Quyết định số 04/2023.QĐST-DS ngày 26-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà T tự nguyện kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ tháng 6 năm 2016 bà T bỏ nhà đi biệt tích đến nay, hiện nay ông không biết bà T ở đâu còn sống hay đã chết. Ông đã làm đơn yêu cầu tuyên bố bà T mất tích, được Toà án giải quyết tại Quyết định số 04/2023/QĐST-DS ngày 26-7-2023 không có tin tức gì về bà T. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho ông V ly hôn bà T là phù hợp.
[3] Về con chung: Ông V xác định ông và bà T 01 con chung tên Bùi Thị Quỳnh A, sinh ngày 22-8-2013, hiện con đang sống cùng ông. Khi ly hôn ông xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, bà T lại vắng mặt không có ý kiến. Xét quyền lợi của con, để đảm bảo và ổn định cuộc sống, khả năng nuôi dưỡng của mỗi bên cũng như nguyện vọng của con. Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp
[4] Về tài sản: Ông V xác định tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có, bà T lại vắng mặt không có ý kiến. Khi ly hôn ông V không yêu cầu giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí : Căn cứ Điều 144; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Ông V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng sân sự;
Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Xuân V được ly hôn bà Chu Thị T.
- Về con chung: Giao con chung tên Bùi Thị Quỳnh A, sinh ngày 22-8-2013 cho ông Bùi Xuân V trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Chu Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Ông Bùi Xuân V phải chịu 300.000 đồng án phí DSST xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005692 ngày 02-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. (Đã nộp đủ án phí).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
- - VKSND huyện Di Linh;
- - Chi cục THADS huyện Di Linh;
- - Đương sự;
- - UBND xã Đinh Lạc;
- - Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
- - Chi cục Thi hành án - UBND thị trấn Di Linh
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K' My Na |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
