Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hiếu

Bà Nguyễn Minh Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 6 và 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2024 về ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXX-ST ngày 07/5/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Bích T; ĐKHKTT: Số B Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số C T, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn về yêu cầu chia tài sản chung và là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Bá C – Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (Theo Quyết định số 1801/QĐ-CMA ngày 18/01/2024 của Công ty L1); có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Hải Đ; ĐKHKTT: 858 N, tổ A, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số nhà C, ngõ A T, tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trịnh Thị D – Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (theo Quyết định số 10/QĐ-LAVN ngày 12/01/2024 của Công ty L2); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Đức H và vợ là bà Nguyễn Thị V; nơi cư trú: Số H N, T, H, Hải Phòng; vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông H và bà V: Anh Vũ Hải Đ; địa chỉ: Số C, ngõ A T, tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Chị Vũ Lan H1; nơi cư trú: Số D N, phường Đ, H, Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 30/10/2023, các bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, ông Lê Bá C thống nhất trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Vũ Hải Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/10/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Kể từ tháng 11/2020, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hoà giải nên chị T về nhà mẹ đẻ tại đường T sinh sống và vợ chồng sống ly thân kể từ thời điểm này. Đến nay, chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không chia sẻ, quan tâm, chăm sóc với nhau về mọi mặt của cuộc sống, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh Vũ Hải Đ.

Về con chung: Chị T xác nhận vợ, chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Theo nguyên đơn, tài sản chung vợ chồng là: Quyền sử dụng 100m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 8/72, tờ bản đồ số 26; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU451963, số vào sổ cấp GCN: CH13244 do UBND quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 20/4/2020 cho anh Vũ Hải Đ và chị Đỗ Thị Bích T. Năm 2017, anh Đ có mua diện tích 100m² đất tại thửa đất số 7/72, tờ bản đồ số 26; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Trước khi kết hôn, chị T và anh Đ có bàn bạc, thống nhất xây dựng nhà trên diện tích đất này để vợ chồng có nơi ở sau khi kết hôn. Việc khởi công xây dựng nhà là vào khoảng tháng 8/2019, lúc này anh Đ đi làm việc trên tàu. Do thời điểm này anh Đ và chị T chưa đăng ký kết hôn nên anh chị thống nhất nhờ ông Vũ Đức H (bố đẻ anh Đ) đứng tên trên hợp đồng xây dựng nhà. Thực tế, chị T là người liên hệ, làm việc với các bên để xây dựng nhà. Trong quá trình đang xây dựng thì phát sinh việc xây dựng nhà nhầm trên thửa đất của gia đình anh V1 tại thửa đất số 8/72, tờ bản đồ số 26; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Chị T là người làm việc, liên hệ với các bên để đàm phán và bỏ ra các khoản chi phí để giải

quyết tranh chấp, làm thủ tục công chứng, sang tên, nộp các khoản thuế để đổi đất từ vị trí đất anh Đ mua trước khi kết hôn (thửa đất số 7/72, tờ bản đồ số 26) về thửa đất xây nhầm nhà là thửa 8/72 tờ bản đồ 26. Việc thanh toán tiền xây nhà là chị Vũ Thị Lan H2 (em gái ruột anh Đ) chuyển trả cho bên thi công xây dựng do tiền anh Đ đi làm gửi về cho chị H2. Sau khi nhà xây dựng xong, chị T là người bỏ tiền để hoàn thiện nội thất và một số tài sản khác trong căn nhà tổng cộng là 895.931.800 đồng. Nhận thấy công sức đóng góp của chị T đối với việc xây dựng nhà và giải quyết tranh chấp đất đai. Sau khi kết hôn, ngày 03/12/2019, anh Đ tự nguyện lập, ký Văn bản thoả thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng được công chứng viên Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng công chứng số 4344/2019, quyển số 04-TP/CC-SCC/VBTT. Anh Đ, chị T đã thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cở sở văn bản thoả thuận này. Ngày 20/04/2020, UBND quận H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CU451963, số vào sổ cấp GCN: CH13244 đối với thửa đất số 8/72, tờ bản đồ số 26, địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, diện tích 100 m² đứng tên anh Đ, chị T. Vì vậy, chị T đề nghị Toà án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng theo hướng chia cho chị T được hưởng 50% giá trị tài sản chung nêu trên.

Tuy nhiên, tại phiên tòa chị Đỗ Thị Bích T đã rút yêu cầu khởi kiện về tranh chấp tài sản chung vợ chồng vì trong thời gian Tòa án tạm ngừng phiên tòa, các bên đã tự hòa giải và thỏa thuận giải quyết xong.

Tại phiên tòa, bị đơn, anh V2 Hải Đăng vắng mặt, nhưng tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Hải Đ trình bày thống nhất với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn được khoảng 01 năm, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Anh và chị T ly thân từ tháng 11/2020 đến nay, không ai quan tâm ai. Nay chị T xin ly hôn, anh Đ nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, anh đồng ý ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết cho hai bên được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Đ xác nhận vợ, chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Anh Đ xác nhận có tài sản chung của vợ chồng là diện tích đất tại thửa đất 8/72, tờ bản đồ số 26; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Còn căn nhà 03 tầng xây trên đất đó thuộc quyền sở hữu của bố mẹ anh Đ là ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V.

Đối với thửa đất số 8/72, tờ bản đồ số 26; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU451963, số vào sổ cấp GCN: CH13244 do UBND quận H, thành phố Hải Phòng cấp ngày 20/4/2020 cho anh Vũ Hải Đ và chị Đỗ Thị Bích T. Quan điểm của anh Đ là mảnh đất trên do anh mua trước khi kết hôn với chị T. Sau khi kết hôn, hai bên đã thoả thuận sáp nhập quyền sử dụng diện tích đất trên thành tài sản chung vợ chồng và được UBND

quận H, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên mang tên anh Đ và chị T. Anh Đ và chị T chỉ có thời gian chung sống với nhau khoảng 03 tháng, anh Đ có công sức nhiều hơn trong việc hình thành, duy trì, quản lý, tu tạo tài sản, chị T không đóng góp cho cuộc sống chung, có lỗi hoàn toàn dẫn đến ly hôn, vì vậy anh đề nghị chia cho chị T được hưởng 20% giá trị tài sản chung, còn lại là của anh sau khi đã trả hết số nợ 1.000.000.000 đồng cho chị H2.

Ngoài ra anh Đ yêu cầu phản tố về chia tài sản chung đối với các tài sản như sau:

  1. Đề nghị Tòa án chấp nhận chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, biển kiểm soát 15A-51728 mang tên chủ sở hữu là chị Đỗ Thị Bích T là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị T. Chiếc xe được mua năm 2019 với giá hơn 700.000.000 đồng, trong đó anh Đ đóng góp số tiền là 308.000.000 đồng để mua xe và trả góp sau đó là 165.000.000 đồng (15.000.000 đồng/tháng trong 11 tháng, từ tháng 10/2019). Giá trị chiếc xe hiện nay là 450.000.000 đồng. Vì chị T tự ý chuyển nhượng chiếc xe, không có sự đồng ý của anh Đ nên anh đề nghị chị T phải trả lại cho anh 50% giá trị xe, tương đương với số tiền là 225.000.000 đồng.
  2. Đề nghị Tòa án chia số tiền 1.017.000.000 đồng anh Đ đã gửi cho chị T để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Anh chấp nhận số tiền sinh hoạt hàng tháng là 20.000.000 đồng, tổng số tiền đã tiêu là 240.000.000 đồng cho 12 tháng. Do chị T không chứng minh được nghĩa vụ đóng góp tiền chi phí sinh hoạt trong gia đình cùng với anh Đ nên số tiền chi tiêu này anh đề nghị chia đôi, mỗi người chịu 120.000.000 đồng, S tiền còn lại chia theo tỷ lệ 20% cho chị T là 171.000.000 đồng và 80% cho anh Đ là 726.000.000 đồng. Tổng số tiền chị T phải trả lại anh Đ là 846.000.000 đồng.

Tuy nhiên, thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh Vũ Hải Đ đã gửi Đơn rút yêu cầu phản tố về tranh chấp tài sản chung vợ chồng vì trong thời gian Tòa án tạm ngừng phiên tòa, các bên đã tự hòa giải và thỏa thuận giải quyết xong.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V vắng mặt, nhưng theo Đơn đề nghị giải quyết yêu cầu độc lập các bản tự khai đã thống nhất trình bày như sau:

Ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V là bố, mẹ đẻ của anh Vũ Hải Đ. Căn nhà 03 tầng tại địa chỉ 3 T được xây trên thửa đất số 8/72, tờ bản đồ 26, do anh Vũ Hải Đ không có tiền nên ông H, bà V đã bỏ tiền để xây dựng căn nhà này trên thửa đất anh Đ mua. Toàn bộ số tiền bỏ ra để mua nguyên vật liệu, ký hợp đồng xây dựng trọn gói, mua sắm nội thất là do ông H, bà V trả cho bên thi công xây dựng thông qua chị Vũ Thị Lan H2 là con gái của ông, bà. Vì vậy, đây là tài sản riêng của ông H, bà V. Không phải là tài sản của anh Đ, chị T.

Do vậy, ông H và bà V có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết phân chia cho ông, bà được nhận căn nhà và diện tích đất nói trên khi anh Đ, chị T ly hôn. Ông, bà sẽ có nghĩa vụ trả tiền đất cho anh Đ, chị T theo kết quả định giá tài sản.

Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V đã gửi Đơn rút yêu cầu độc lập về tranh chấp tài sản chung với vợ chồng anh Đ, chị T vì trong thời gian Tòa án tạm ngừng phiên tòa, các bên tự đã hòa giải và thỏa thuận giải quyết xong.

Theo Đơn đề nghị giải quyết yêu cầu độc lập và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Vũ Lan H2 trình bày:

Chị Vũ Lan H2 là em gái anh Vũ Hải Đ. Năm 2017, anh Đ mua đất của ông Nguyễn Viết K tại địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, thời điểm đó anh Đ đang đi làm trên tàu cũng như chưa có tiền mua đất nên nhờ chị H2 cho vay số tiền mua diện tích đất đó. Chị H2 là người trực tiếp giao toàn bộ số tiền mua đất là 1.400.000.000 đồng cho ông K, có viết giấy biên nhận đầy đủ. Vào tháng 10/2017 khi anh Đ đi làm về, trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Thế L, ông H, bà V, anh Đ đã viết giấy vay nợ, cam kết trả dần cho chị tới khi hết số tiền 1.400.000.000 đồng. Hiện nay, anh Đ đã trả được 400.000.000 đồng và còn nợ số tiền 1.000.000.000 đồng. Nay chị T xin ly hôn và chia tài sản chung là nhà và đất nêu trên. Chị H2 đề nghị Tòa án buộc anh Đ và chị T có nghĩa vụ trả lại cho chị số tiền còn thiếu khi mua đất là 1.000.000.000 đồng rồi mới thực hiện việc phân chia tài sản chung theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, tại phiên tòa chị Vũ Lan H2 rút yêu cầu độc lập về tranh chấp việc vay nợ với vợ chồng anh Đ, chị T vì trong thời gian Tòa án tạm ngừng phiên tòa, các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Bích T được ly hôn anh Vũ Hải Đ.
  2. Về con chung: Chị Đỗ Thị Bích T và anh Vũ Hải Đ không có con chung nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung:
    • - Do nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung và việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung khi ly hôn;
    • - Do bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc chia tài sản chung vợ chồng; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã rút toàn bộ yêu cầu độc lập; xét

thấy việc rút yêu cầu của các đương sự là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

4. Về án phí:

  • - Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn;
  • - Trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì họ đã rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập đối với các tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Vũ Hải Đ đang cư trú tại: Số C T, tổ dân phố T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn, anh Vũ Hải Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V đều vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đức H, bà Nguyễn Thị V.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Bích T và anh Vũ Hải Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận. Nhưng quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống hai bên không phù hợp. Từ tháng 11/2020 đến nay, do mâu thuẫn căng thẳng, không thể hoà giải nên vợ, chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm ai. Nay chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, anh Đ xác định vợ chồng không còn tình cảm, anh đồng ý ly hôn. Như vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho chị T được ly hôn anh Đ.

[4] Về con chung: Chị Đỗ Thị Bích T và anh Vũ Hải Đ xác nhận không có con chung.

[5] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp tài sản chung vợ chồng; liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba;

[6] Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 20/6/2024, các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên có thời gian tự hòa giải, thỏa thuận giải quyết tranh chấp về tài sản chung và các quyền, nghĩa vụ dân sự có liên quan. Hội đồng xét xử đã ban hành Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2024 theo quy định của pháp luật;

[7] Tại phiên tòa ngày 19/7/2024, nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích T đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp tài sản chung vợ chồng. Bị đơn anh Vũ Hải Đ đã có đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố về tranh chấp tài sản chung vợ chồng. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đức H, bà Nguyễn Thị V và chị Vũ Lan H2 có đơn rút toàn bộ yêu cầu độc lập vì trong thời gian tạm ngừng phiên tòa, các bên đương sự đã tự hòa giải, thỏa thuận giải quyết xong tranh chấp tài sản chung và các quyền, nghĩa vụ dân sự có liên quan.

[8] Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ việc các bên đã tự hòa giải, thỏa thuận giải quyết xong tranh chấp. Tại phiên tòa, các bên đã xuất trình các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc họ đã giải quyết xong các tranh chấp. Bởi vậy, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của các bên đương sự được nêu tại Mục [7].

[9] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích T tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[10] Về án phí:

[11] Nguyên đơn chị Đỗ Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội;

[12] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp tài sản chung, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập. Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu này. Bởi vậy, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội;

[12] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 218, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 18, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận rút toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn; chấp nhận rút toàn bộ yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Bích T được ly hôn anh Vũ Hải Đ.
  2. Về con chung: Chị Đỗ Thị Bích T và anh Vũ Hải Đ không có con chung.
  3. Về tài sản chung:
    • - Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu phản tố của bị đơn về tranh chấp phân chia tài sản chung vợ chồng do hai bên đã tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
    • - Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V về tranh chấp tài sản chung với anh Vũ Hải Đ và chị Đỗ Thị Bích T do các bên đã tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
    • - Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Lan H2 về tranh chấp vay tài sản với anh Vũ Hải Đ và chị Đỗ Thị Bích T do các bên đã tự thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí:
    • - Chị Đỗ Thị Bích T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 42.000.000 đồng đã nộp (theo Biên lai số 0005522 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An). Chị T đã nộp xong án phí.
    • - Trả lại chị Đỗ Thị Bích T số tiền 41.700.000 (bốn mươi mốt triệu bảy trăn nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí (theo Biên lai số 0005522 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An);
    • - Trả lại anh Vũ Hải Đ số tiền 20.265.000 (hai mươi triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí (theo Biên lai số 0005532 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An);
    • - Trả lại chị Vũ Lan H2 số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng tiền tạm ứng án phí (theo Biên lai số 0005534 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
  5. Về quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,chị Vũ Lan H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản bán hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TANDTP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - UBND phường Dư Hàng Kênh,
  • quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger